ĐỔI MỚI RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM- MỘT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

1-Vài nét về chất lượng đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm hiện nay

Chất lượng đào tạo giáo viên vốn vẫn được đo bằng kiến thức chuyên ngành và phương pháp giảng dạy (hay còn gọi là kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm (NVSP). Ở thời nào cũng vậy, hai yếu tố đó được coi như “2 chân” của mỗi giáo viên.

Thế nhưng, nhìn vào thực tế hiện nay, kiến thức về phương pháp của giáo viên nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng còn có nhiều hạn chế. Biểu hiện là, trong các trường phổ thông không thiếu những giáo viên có chuyên môn giỏi nhưng dạy lại rất giở. Nguyên nhân của tình trạng này do nhiều yếu tố, song một trong những điều đang khiến mọi người quan tâm - đó chính là việc đào tạo nghiệp vụ trong các trường sư phạm hiện nay đang bộc lộ những điểm yếu (nếu không muốn nói là có nhiều bất ổn)

Nếu cứ nhìn vào kết quả kiến tập, thực tập sư phạm của SV mà các trường sư phạm tổng kết hàng năm thì bất cứ ai cũng rất khâm phục và yên tâm với chất lượng đào tạo nghề dạy học. Theo báo cáo tổng kết của trường ĐHSP Hà Nội (một trong những trường ĐHSP trọng điểm của cả nước) thì kết quả thực tập sư phạm của SV năm 2008-2009, (khoá 55, 56) chỉ có loại khá giỏi và xuất sắc, không có SV xếp loại trung bình. Bảng số liệu dưới đây cho ta thấy rõ điều đó:

Xếp loại

Sinh viên sư phạm

Sinh viên ngoài sư phạm

K55

K56

Xuất sắc

96,58%

97,13%

69,89%

Giỏi

3,23%

2,67%

23,66%

Khá

0,19%

0,0%

6,45%

Một nghịch lí là, các trường phổ thông đánh giá kết quả thực tập của SV cao như vậy, nhưng khi SV tốt nghiệp xin về giảng dạy thì chính trường đó lại không dám nhận!

Qua tiến hành dự giờ, điều tra, phỏng vấn SV và GV hướng dẫn thực tập sư phạm ở một số trường ĐH-CĐSP, chúng tôi thu được những phản hồi không mấy khả quan:

+ Về năng lực chuyên môn:

- Vẫn còn không ít SV chưa vững vàng về kiến thức nên chưa làm chủ được bài giảng ( không dám di chuyển xuống lớp, vì không thể rời giáo án)

- Khả năng phân tích và nắm vững chương trình-SGK còn yếu, chưa biết khai thác sâu những nội dung cơ bản trong SGK, chưa nhấn mạnh và biết xoáy vào những vấn đề cốt lõi và trọng tâm của bài học, nên nội dung dạy học từng bài còn dàn trải, hời hợt.

- Tình trạng tham lam kiến thức còn khá phổ biến, nên bài giảng dài dòng, quá nặng nề, cháy giáo án.

- Trong khi phân tích, giải thích các thuật ngữ, khái niệm do thiếu vốn từ và kiến thức chuyên sâu, nên việc giải thích còn nông cạn và thiếu sức thuyết phục.

+ Về phương pháp dạy học:

- Tình trạng chung vẫn là dạy theo phương pháp truyền thống, khả năng vận dụng các phương pháp DH tích cực (nêu và giải quyết vấn đề, vấn đáp-đàm thoại, thảo luận nhóm) còn lúng túng…Một số SV đã cố gắng áp dụng CNTT vào dạy học nhưng còn nặng về biểu diễn, trình chiếu trên màn hình, nên hiệu quả thấp.

- Kỹ năng diễn đạt chưa chuẩn (vẫn còn SV nói ngọng, nói lắp, nói nhát gừng, nói tiếng địa phương hoặc đưa thêm những liên từ rằng, thì, là mà…), gây sự chú ý không tốt đối với HS. Mặt khác, lời giảng chưa có ngữ điệu, gương mặt lại hết sức căng thẳng nên bài giảng thiếu sự hấp dẫn.

- Kỹ năng viết bảng chưa đạt yêu cầu. Nhiều SV viết nhanh, nhưng chữ xấu, trình bày bảng chưa khoa học, viết quá dài, quá nhiều chi tiết. Ngược lại, có SV viết quá ngắn, ít thông tin, không tóm tắt được những nội dung cơ bản, chính yếu của bài học trên bảng để HS dễ theo dõi và ghi chép

- SV còn thiếu kỹ năng tổ chức dạy học nhóm, nhất là trong khâu chọn vấn đề cần thảo luận nhóm, chia nhóm, phân công trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm, đặc biệt là điều khiển hoạt động của nhóm. Bởi vậy, kết quả hoạt động nhóm không cao, đôi khi mang tính hình thức.

- Kỹ năng sử dụng đồ dùng trực quan còn yếu, chưa biết kết hợp khéo léo giữa lời nói với việc chỉ dẫn trên đồ dùng trực quan.

- Kỹ năng giao tiếp, xử lý các tình huống dạy học còn lúng túng nên chưa điều khiển tốt quá trình dạy học ở trên lớp. Nhiều SV chưa tạo lập được mối quan hệ thân mật, gần gũi, cới mở giữa thầy và trò, nên sự tương tác trong dạy học rất khó khăn. Đây là điểm yếu nhất của SV mà chúng tôi thu nhận được qua quan sát cũng như qua tiến hành phỏng vấn. .

- Phong thái, tác phong và các thao tác sư phạm trên lớp của SV còn vụng về, thiếu tự tin, chưa tạo được “cái uy” trước mắt học trò.

+ Về năng lực quản lý :

- Việc lập kế hoạch dạy học-giáo dục của SV trong đợt thực tập còn khuôn mẫu, cứng nhắc, chưa sáng tạo, linh hoạt. Đôi khi quá phụ thuộc vào GV hướng dẫn.

- Khả năng bao quát, điều khiển lớp chưa tốt vì phải lo việc truyền đạt kiến thức sao cho kịp thời gian tiết học….

Từ những hạn chế nêu trên, chúng tôi cho rằng việc đào tạo NVSP trong các trường sư phạm hiện nay vẫn chưa trang bi tốt cho SV những năng lực sư phạm một cách vững vàng. Nếu các trường sư phạm chưa nhận thấy điều này và không kịp thời cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo NVSP thì chất lượng đào tạo GV đang là dấu hỏi lớn trước các nhà tuyển dụng.

2- Đổi mới rèn luyện nghiệp vụ sư phạm-một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

Để nâng cao chất lượng đào tạo GV, cần có nhiều yếu tố đồng bộ, song trước hết phải đổi mới công tác rèn luyện NVSP cho SV. Bởi đây là yếu tố quan trọng, là đặc trưng cơ bản của trường sư phạm. Muốn đổi mới rèn luyện NVSP, theo chúng tôi cần thực hiện những vấn đề sau:

+ Đổi mới quy trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm: Qui trình đào tạo song song như hiện nay ở một số các trường sư phạm có nhiều ưu điểm. SV ngay từ năm thứ 2 đã được rèn luyện NVSP xen kẽ với việc học các môn chuyên ngành. Tuy nhiên, thời lượng dành cho việc việc rèn luyện NVSP trong suốt 4 năm còn ít, rời rạc và thiếu hệ thống. Đôi khi, việc đào tạo NVSP giữa các khoa trong một trường không được đồng đều và còn thiếu sự thống nhất. Do đó, các trường SP nên có một khoa (hay trung tâm) chuyên đào tạo NVSP. Ở đó, SV được rèn các kỹ năng cơ bản chung như kỹ năng diễn đạt (nói, viết);kỹ năng trình bày bảng, sử dụng đồ dùng trực quan, thiết kế giáo án… ). Những kỹ năng DH mang tính đặc thù của bộ môn thì giảng viên các khoa sẽ đảm nhiệm. Điều này không chỉ sớm khắc phục được tình trạng nêu trên mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của việc “dạy nghề”. Trong những năm qua, Khoa sư phạm-ĐHQG hay Đại học An Giang đang cố gắng thực hiện xây dựng một mô hình mà khoa Sư phạm chỉ hoàn thiện đầu ra, và chủ yếu trang bị NVSP. Kiến thức nền, kiến thức phần cứng được đảm bảo từ các chuyên ngành khác với mong muốn thay đổi cơ bản tình hình đào tạo giáo viên.

+ Đổi mới nội dung chương trình đào tạo NVSP

Nhìn vào chư­ơng trình đang áp dụng hiện nay, các học phần liên quan đến đào tạo NVSP chiếm tỉ lệ không nhỏ.Với tỉ lệ này đã thể hiện sự coi trọng đối với công tác đào tạo NVSP. Tuy nhiên, qua thực tiễn đào tạo, nội dung chư­ơng trình vẫn còn khá nhiều bất cập. Chẳng hạn nh­ư:

+ Việc giảng dạy các học phần Tâm lí học, Giáo dục học vẫn nặng về lí thuyết và có tính chất hàn lâm, ch­ưa thực sự gắn kết và bắt kịp với sự biến đổi ngày càng phức tạp ở thực tế phổ thông. SV chưa được “tắm mình” trong các tình huống cụ thể trong dạy học và GD ở trư­ờng phổ thông. Bởi vậy, SV cảm thấy ít gắn bó với môn học này và mang tâm lí học đối phó. Kết quả là, nhiều SV ra trư­ờng bị hẫng hụt và hết sức lúng túng tr­ước những tình huống mà họ gặp phải ở trên lớp

+ Các học phần về phương pháp dạy học bộ môn tuy đã cố gắng trang bị cho SV nắm vững hệ thống các phư­ơng pháp DH và cập nhật những vấn đề đổi mới về ph­ương pháp giảng dạy ở phổ thông, song vẫn còn khoảng cách khá xa giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa đào tạo ở trư­ờng s­ư phạm với thực tế giảng dạy ở nhà tr­ường. Nhiều SV khi thực tập SP rất ngỡ ngàng, lúng túng trư­ớc những yêu cầu của GV hướng dẫn dưới phổ thông (nh­ư cách lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án; trình bày bài giảng, sử dụng các ph­ương tiện, đồ dùng trực quan, tổ chức các hoạt động DH-GD ngoài giờ lên lớp…).

Từ thực tế này, cần xem xét và điều chỉnh nội dung đào tạo cho phù hợp và hiệu quả theo hư­ớng: giảm bớt lý thuyết, tăng cường thực hành theo hướng ứng dụng gắn kết với thực tiễn phổ thông, chú trọng rèn luyện các kỹ năng dạy học-giáo dục cho SV, đặc biệt là kỹ năng ứng xử, giao tiếp. Đây là điểm yếu nhất mà SV thấy cần phải bổ sung và tăng cường trong công tác rèn luyện NVSP.

Bên cạnh đó, cần đặt bộ môn phương pháp dạy-học vào một vị trí thích đáng và chăm lo đầu tư cho bộ môn này thực sự trở thành rường cột trong đào tạo NVSP.

+ Chú trọng tới dạy mẫu, làm mẫu trong qui trình đào tạo NVSP.

Xây dựng mẫu, làm mẫu và dạy mẫu là khâu tất yếu của qui trình đào tạo nghề. Việc xem mẫu, làm theo mẫu không chỉ có ý nghĩa đặc biệt đối với SV các trường kĩ thuật mà còn có tác dụng to lớn trong đào tạo nghề dạy học. Ở trư­ờng phổ thông, ta vẫn biết rằng, HS muốn giải quyết đ­ược bài tập phải đ­ược xem các bài mẫu để làm theo. Ở trư­ờng ĐHSP, SV muốn giảng dạy đư­ợc tốt phải xem các giờ dạy mẫu như thế nào?. Tiếc rằng, làm mẫu vẫn là điều ít thấy hoặc chư­a làm đ­ược trong đào tạo NVSP hiện nay. Phần lớn các giảng viên vẫn nặng về lí thuyết, chư­a chuyển hoá lí thuyết nghề thành mẫu cụ thể để SV thấy đ­ược một cách trực diện và học đư­ợc qua mẫu. Nhiều giảng viên có thể nói về cách thức dạy một bài như­ thế nào rất hay, như­ng yêu cầu giảng mẫu về bài đó thì lại không làm đư­ợc. Hoặc nói về ph­ương pháp dạy học bằng tình huống, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề… rất bài bản, nhưng thực hiện nó thông qua một ví dụ thì lại rất dở!

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi cho rằng, dạy mẫu phải đư­ợc coi là một yêu cầu bắt buộc trong qui trình đào tạo NVSP. Sau khi học lí thuyết, SV phải đ­ược xem mẫu, đ­ược nhận diện và phân tích qua mẫu, làm thuần thục theo mẫu, sau đó mới sáng tạo.

Muốn làm đư­ợc điều này, các trường ĐHSP phải có đội ngũ giảng viên không chỉ giỏi về lí thuyết mà phải giỏi về thực hành để làm mẫu ngay trên lớp. Chính sự sinh động của những việc làm mẫu, bài giảng mẫu sẽ giúp SV hình thành những kĩ năng sư­ phạm bằng một con đư­ờng sinh động nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất.

+Tăng c­ường sử dụng băng hình trong rèn luyện NVSP cho SV

Thực tiễn dạy học ở tr­ường phổ thông diễn ra vô cùng sinh động, phong phú với nhiều tình huống đa dạng và phức tạp. Trong quá trình đào tạo, SV ít có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn. Trong khoảng thời gian quá ngắn của các đợt kiến tập, thực tập sư­ phạm không thể đủ để cho SV hiểu hết thực tiễn dạy học ở tr­ường phổ thông. Nếu biết xây dựng và sử dụng các băng ghi hình về các tiết dạy của GV phổ thông, các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở nhà trư­ờng hoặc các tiết giảng tập của SV để minh hoạ, để phân tích và giúp SV quan sát, học tập, đúc rút kinh nghiệm thì không những mang lại hiệu quả cao mà còn gắn đ­ược với thực tiễn ở phổ thông. Mặt khác ta còn có thể sử dụng một số đoạn băng hình chứa đựng những mâu thuẫn về nội dung, về phư­ơng pháp hay các biện pháp tổ chức dạy học- giáo dục để xây dựng các bài tập tình huống cho SV thảo luận, tập giải quyết tình huống trong khi học tập vấn đề lí thuyết. Đây là một giải pháp tích cực và thuận lợi trong rèn luyện NVSP cần đư­ợc đ­ưa vào trong quá trình đào tạo.

+Đầu t­ư CSVC chuyên dụng cho đào tạo NVSP.

Ngư­ời học lái xe trư­ớc hết cần phải có xe và sân bãi để luyện tập, SV nhạc viện phải có các phòng riêng để sử dụng các nhạc cụ và luyện âm…. Tư­ơng tự như­ vậy, SV sư­ phạm cần phải có các phòng học chuyên dụng để tập giảng, rèn luyện các kĩ năng tay nghề. Như­ng cho đến nay, bản thân các tr­ường ĐHSP vẫn chưa có đ­ược những phòng học chuyên dụng với đầy đủ các trang thiết bị cần thiết cho đào tạo NVSP. Chính vì thế, việc đào tạo NVSP còn nhiều hạn chế và ch­ưa đạt tới trình dộ chuyên nghiệp. Bức xúc về vấn đề này, ngay từ năm 2006 Hiệu trưởng trường ĐHSP Thái Nguyên Nguyễn Văn Lợi đã phát biểu tại Hội Nghị các trường sư phạm : “Trường SP được coi như “máy cái” về đào tạo GV, nhưng các điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí, đội ngũ GV …trong tình trạng thua kém các trường ĐH khác”.

Để khắc phục tình trạng này, tr­ường sư­ phạm cần đầu tư­ xây dựng các phòng học với đầy đủ các trang thiết bị cần thiết (bảng, phấn, gư­ơng, camera, các loại đồ dùng trực quan, các dụng cụ thí nghiệm…) để SV có thể tập giảng, rèn luyện theo một qui trình khoa học và chỉnh sửa các thao tác nghề nghiệp ch­ưa chuẩn, đồng thời xem và phân tích các giờ giảng mẫu của GV qua băng hình để học tập , đúc rút kinh nghiệm….Giải quyết đư­ợc vấn đề này sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lư­ợng rèn luyện NVSP trong trường ĐHSP.

+ Thay đổi thời gian và nội dung kiến tập, thực tập sư phạm cho SV

Thực tập sư­ phạm là khâu cuối cùng của quá trình đào tạo trong nhà trường sư­ phạm. Đây là môi tr­ường thực để SV thể hiện đầy đủ nhất kết quả học tập, rèn luyện của mình (kể cả thành công cũng như­ hạn chế và yếu kém). Bởi vậy, TTSP là một hoạt động rèn luyện hết sức quan trọng. Tuy nhiên, thời gian, nội dung và công tác tổ chức TTSP hiện nay cho thấy không ít những bất cập:

Hạn chế lớn nhất của đào tạo giáo viên (4 năm) là thời gian kiến tập, thực tập của SV quá ít, chỉ từ 3-4 tuần, trong khi theo nhiều chuyên gia, nếu để bảo đảm một SV sư phạm ra đứng lớp có hiệu quả, phải dành ít nhất 1 năm để thực tập. Hiện nay, nhiều bang của Mỹ cũng như một số quốc gia như Malaysia, Thái Lan đã thực hiện mô hình đào tạo 5 năm, trong đó có 1 năm để SV thực tập. Điều này đã tạo nên sự khác biệt lớn về kỹ năng sư phạm của SV.

Mặt khác, kiểu đào tạo GV theo mô hình truyền thống: Trường sư phạm dạy cho SV lý thuyết, còn thực hành lại “đẩy” về các trường phổ thông trong thời gian kiến tập, thực tập như hiện nay đã đem lại những kết quả không đáng tin cậy và gây khá nhiều tốn kém. Một số trường đại học (như đại học An Giang) đã thay đổi bằng cách, không gửi SV xuống trường phổ thông một cách đại trà và chia đều như trước đây nữa mà tiến hành khảo sát lại thực lực các trường phổ thông, từ đó gửi SV theo đúng điểm mạnh và nhu cầu thực tế. Đồng thời, tăng cường tổ chức các tiết dạy mẫu, mời các giáo viên phổ thông giỏi, cùng thiết kế, xây dựng, thực hiện những giờ lên lớp phổ thông ngay tại giảng đường đại học. Sự đổi mới này thực sự đã đem lại hiệu quả cao trong đào tạo NVSP.

+ Đổi mới cách đánh giá hoạt động rèn luyện NVSP cho sinh viên.

Chúng ta vấn biết, một SV có thể rất giỏi về kiến thức khoa học cơ bản, nhưng không giỏi về NVSP, không có kĩ năng nói, viết, phong cách sư­ phạm, cách thức tổ chức giờ lên lớp, khả năng xử lí linh hoạt và hiệu quả các tình huống sư­ phạm…thì không thể đánh giá đó là một sinh viên giỏi theo tiêu chí của trư­ờng sư­ phạm. Thế như­ng, hiện nay, do sự chi phối bởi quan niệm: NVSP chỉ là một môn phụ, có tính chất bổ trợ. Kết quả rèn luyện NVSP cũng chỉ có tính chất điều kiện, không quyết định nhiều tới chất l­ượng và tiêu chí đánh giá trình độ tốt nghiệp của sinh viên. Vì thế hoạt động rèn luyện NVSP có nhiều hạn chế.

Để đánh giá một cách khác quan, chính xác, công bằng và thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo, Tr­ường ĐHSP cần đánh giá trình độ NVSP của SV qua một Hội đồng riêng với sự tham gia của các GV, các nhà s­ư phạm có chuyên sâu về NVSP. (Có thể mời những GV phổ thông dạy giỏi tham gia Hội đồng này). Hội đồng này có trách nhiệm đánh giá NVSP của SV qua một giờ lên lớp hoàn chỉnh. Điểm NVSP này đ­ược coi là một trong những điểm đánh giá tốt nghiệp bắt buộc của giáo sinh, kể cả giáo sinh làm luận văn tốt nghiệp. Đây là cách đánh giá công bằng, khoa học và quan trọng hơn là nó định h­ướng cho SV sư phạm ý thức, trách nhiệm cao đối với việc nâng cao tay nghề.

Tóm lại, ĐHSP là một tr­ường đào tạo nghề đặc biệt-nghề dạy học. Năng lực s­ư phạm của mỗi SV có đ­ược chính là do kết quả của sự rèn luyện NVSP mà nên. Bởi vậy, phải đổi mới và coi việc đào tạo NVSP là nét đặc thù, là hoạt động cơ bản để rèn luyện tay nghề cho SV. Những biện pháp mà chúng tôi đưa ra ở trên hy vọng sẽ góp phần tạo nên những thay đổi cơ bản trong chất lượng đào tạo GV hiện nay.

 Nguồn tin: Viện nghiên cứu Sư phạm (http://ioer.edu.vn/component/k2/item/157)

Sửa lần cuối: Thursday, 21 June 2012, 04:39 PM