Printer-friendly version
"Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng
Không bằng kinh sử một vài pho"
Cao Bá Quát


Browse the glossary using this index

Special | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O
P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z | ALL

Page:  1  2  (Next)
  ALL

A

:

алфред Адлер

Alfred Adler, sinh ở Vienna năm 1870 và chết ở Aberdeen, Scotland năm 1937, là một nhà tâm thần học, thành viên của Hội Phân Tâm học của Áo, sau đó là chủ tịch của Hội.

Ông đi theo phân tâm học của Freud rồi chấm dứt liên hệ với Phân tâm học ấy và thành lập một nhóm riêng gọi là “Tâm lý học cá nhân” (Individual Psychology). Adler đã xuất bản hơn một trăm tập sách, trong đó tập ‘thực hành và lý thuyết của Tâm lý cá nhân’ có lẽ là tập giới thiệu tốt nhất về lý thuyết Nhân Tính của Adler.

Calvin S. Hall và Gardner Lindzey đánh giá rằng:

“Trái ngược với giả định của Freud cho rằng tánh hạnh của con người là các bản năng bẩm sinh kích động, trái ngược hẳn với tiền đề chính của Jung cho rằng tánh hạnh của con người là do các mẫu hình tâm lý bẩm sinh chế ngự. Adler thì cho rằng con người chủ yếu bị kích động bởi các thúc đẩy xã hội. Con người tự mình liên hệ với những người khác, dấn thân vào các hoạt động có tính cách hợp tác và xã hội, đặt sự an lạc của xã hội lên trên cái lợi của cá thể ích kỷ, và có một nếp sống nổi bật sắc thái xã hội... Freud nhấn mạnh dục tính, Jung nhấn mạnh mẫu tư tưởng từ ban sơ, và Adler nhấn mạnh lợi ích xã hội.

Sự đóng góp lớn thứ hai của Adler vào lý thuyết Nhân Tính là lý thuyết của ông về cái ngã sáng tạo...

Nét đặc trưng thứ ba của tâm lý học của Adler làm tâm lý học ấy khác hẳn Phân tâm học cổ điển là điểm nhấn mạnh vào tính độc đáo của Nhân Tính...
Sau cùng Adler xem ý thức là trung tâm của Nhân Tính, khiến Adler trở nên người tiên phong trong việc phát triển một tâm lý học - hướng - đến - ý thức (ego)”.

Sự khám phá hữu ích nhất của lý thuyết Nhân Tính của Adler là nhấn mạnh vào lợi ích xã hội, cái ngã sáng tạo và ý thức là trung tâm của Nhân Tính. Khám phá này đem lại một sự đóng góp ý nghĩa vào lãnh vực các lý thuyết Nhân Tính. Tuy nhiên, dưới ánh sáng duyên khởi, ý thức chỉ là hậu quả của sự vận hành của hai chi phần Vô minh và Hành, mà không phải là trung tâm điểm của Nhân Tính. Bằng cách nào rồi lý thuyết của Adler cũng cần được điều chỉnh như lý thuyết của Freud và Jung.
Keyword(s):

C

:

Carl Gustav Jung (06:02 25/12/2008)

Carl Gustav Jung (1875-1961) chào đời ở Kesswill, trên bờ hồ Constance phía Thuỵ Sĩ.


Cha ông là một mục sư Tin lành, bởi vậy đã có ảnh hưởng tinh thần đến tác phẩm của ông. Họ đến ở gần Schloss-Laufen, bên bờ thác nước sông Rhin, rồi ở gần Bâle, thành phố nơi chàng thanh niên Carl Gustav học tập và nhận chức vị thầy thuốc.

Jung tự đặt ra cho mình, ngay từ những năm đầu, câu hỏi kép vốn chế ngự cuộc sống của ông: “Thế giới là gì và ta là ai?”và, mặc dù sự tò mò mãnh liệt đưa ông về phía hiện thực bên ngoài, nhưng ông dự đoán rằng câu trả lời nằm ở bên trong ông chứ không phải bên ngoài. Đối với ông, Thiên Chúa giáo và khái niệm về một Thượng đế toàn ái không đủ để giải đáp thoả đáng những vấn đề ấy. Tâm thần học có vẻ như đã tặng ông một phương tiện để tiếp cận tổng thể con người.

Để cho những nghiên cứu của mình được trọn vẹn, ông vào Burghölzli, bệnh viện tâm thần của tổng Zurich, nơi ông là học trò của Eugen Bleuler. Sau khi bảo vệ luận án về “bệnh học tâm thần của những hiện tượng được gọi là bí ẩn” (1902), ông chuẩn bị cho việc xuất bản đầu tiên: nghiên cứu về liên tưởng (1903) và sự sa sút trí tuệ sớm (1907). Jung nỗ lực vượt qua thái độ chỉ thuần tuý mô tả căn bệnh tinh thần và cố gắng hiểu nội tâm.

Những công trình của Freud khiến ông chú ý, ông gắn bó với tác giả của cuốn Giải mộng bằng một tinh thần nhiệt thành kéo dài bảy năm, đến nỗi Freud muốn chọn ông làm người kế nghiệp. Nhưng hệ tư tưởng của bậc đàn anh càng ngày càng xa cách ông: Jung không thể chấp nhận một quan niệm về năng lực tâm thần (libido) giới hạn cho nhu cầu của một học thuyết ở xung năng tình dục.

Ông cũng ngờ vực thuyết của Freud về môn cận tâm lý học (parapsychologie) và khoa thần thoại học so sánh (mythologio comparée), thế rồi sự rạn vỡ giữa hai con người trở nên không thể tránh khỏi sau khi cuốn Những biến thái và biểu tượng của libido (1912) được xuất bản. Cũng chính trong thời kỳ này, Jung đến ở Küsnacht, gần Zurich, bên bờ hồ, nơi ông hành nghề cho đến lúc mất, rời bỏ chức vị Privatdozent ở đại học Zurich. Chỉ từ đó trở đi và trong việc nghiên cứu theo một định hướng, ông mới cảm thấy rằng, để khám phá thế giới bên ngoài, ông cần phải đương đầu với thế giới tăm tối trong chính bản thân mình.


:

Carl Rogers

Carl Rogers

Carl Rogers (8/1/1902 – 4/2/1987) được biết đến như là một trong những người đặt nền tảng cho việc nghiên cứu liệu pháp tâm lý và được vinh danh vì những cống hiến tiên phong của ông về cách tiếp cận Nhân văn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong Tâm lý học.

Rogers được xem là một trong sáu nhà tâm lý học kiệt suất nhất của thế kỷ 20, và được xếp thứ hai sau Sigmund Freud.

Carl Ransom Rogers sinh vào ngày 8 tháng 1 năm 1902, tại Oak Park, ngoại ô Chicago. Cha của ông Walter Rogers là một kỹ sư, mẹ ông làm nội trợ và là người sùng đạo Thiên Chúa.

Rogers từ nhỏ đã tỏ ra thông minh và nổi bật. Theo học nền giáo dục tôn giáo nghiêm khắc trong nhà xứ Jimpley, môi trường đạo đức đã nuôi dưỡng Rogers. Ông sống khá tách biệt, độc lập và có kỷ luật, ham thích với kiến thức và cách đánh giá khoa học về thế giới thực nghiệm.

Năm 1931, ông lấy bằng tiến sĩ.

Năm 1930, ông là giám đốc Hội Phòng chống Bạo hành Trẻ em tại Rochester, New York.

 Năm 1940, ông là giáo sư tâm lý lâm sàng tại trường đại học tiểu bang Ohio.

Từ năm 1945-1957, ông được mời thành lập nên Trung tâm Tham vấn tại trường Đại học Chicago và giảng dạy tâm lý học tại đây.

Năm 1956 Rogers trở thành chủ tịch đầu tiên của Viện Hàn Lâm các nhà Trị liệu Tâm lý Mỹ.

Khoảng 1957- 1963, Ông giảng dạy tâm lý học tại đại học Wisconsin. Ông trở thành chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu vì Con người tại La Jolla năm 1963, và làm việc tại đây cho đến cuối đời. Cùng với con gái của mình, Natalie Rogers, những năm 1975-1980, ông đã xây dựng hàng loạt chương trình dân sự (residential programme) tại Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, làm việc theo tiếp cận đặt con người làm trọng tâm, chú trọng đến những cách thức giao tiếp có tính giao lưu văn hóa (cross-cultural communications), sự trưởng thành của con người, tăng nội lực, thay đổi xã hội. Rogers mất năm 1987, sau một cơn đau tim đột ngột.

Năm 1956 ông được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ trao giải Cống hiến Khoa học Nổi bật (Distinguished Scientific Contributions). Và tiếp tục nhận giải Người có cống hiến nổi bật về Tâm lý học (Distinguished Professional Contributions to Psychology) năm 1972.

Các tác phẩm nổi tiếng

- Trị liệu lâm sàng các vấn đề của trẻ em (The Clinical Treatment of the Problem Child) năm 1939

- Tham vấn và Trị liệu Tâm lý (Counseling and Psychotherapy) năm 1942

- Liệu pháp Thân chủ Trọng tâm (Client-Centered Therapy) năm 1951

- Liệu pháp Tâm lý và sự Thay đổi Nhân cách (Psychotherapy and Personality Change) năm 1954

- Tiến trình thành nhân (On Becoming a Person) năm 1961

- Nội lực (Personal Power) năm 1977

- Tự do để học tập trong thập kỷ 80 (Freedom to Learn for the 80’s) năm 1983

Là một nhà tâm lý đã khởi xướng cách tiếp cận trị liệu không hướng dẫn, thân chủ trọng tâm, nhấn mạnh đến quan hệ liên cá nhân giữa nhà trị liệu và thân chủ, Rogers cũng xác định tiến trình, tốc độ và sự dai dẳng của việc điều trị.

Tiếp cận Thân chủ Trọng tâm là cách tiếp cận tâm lý đặc trưng của ông nhắm đến sự thông hiểu bản tính con người và các mối quan hệ nhân bản, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực có liên quan khác như Trị liệu Tâm lý và Tham vấn (Liệu pháp thân chủ trọng tâm), Giáo dục (phương pháp người học trọng tâm), tổ chức nhân sự, thiết lập nhóm.

Keyword(s):

E

:

Albert Ellis

Albert Ellis sinh ngày 17-9-1913 ở Pittsburgh, cha mẹ ông là những người Do Thái.


Ông là anh cả, một người em trai kém ông 2 tuổi và một em gái kém ông 4 tuổi. Cha của Ellis là một doanh nhân không mấy thành công; ông ít quan tâm tới các con và thường xuyên vắng nhà đi làm ăn xa trong suốt tuổi thơ của các con.

Trong tiểu sử của mình, Ellis miêu tả mẹ mình là một phụ nữ chỉ quan tâm đến thế giới riêng của bà với một cảm xúc lưỡng cực. Theo Ellis, bà là một người nói luyên thuyên rất nhiều mà không bao giờ lắng nghe, bà sẽ trình bày các quan điểm mạnh mẽ của bà về hầu như mọi chủ đề nhưng hiếm khi đưa ra một nền tảng thực tế nào cho những quan điểm đó. Giống như người cha, mẹ của Ellis rất xa cách với các con mình. Ellis kể lại rất chi tiết rằng mẹ luôn ngủ khi ông đi tới trường và thường không ở nhà khi ông trở về. Thay thế cho cảm giác cay đắng đó, ông tự nhận trách nhiệm chăm sóc cho các em mình. Ông tự mua một chiếc đồng hồ báo thức bằng tiền riêng để thức dậy sớm và mặc đồ cho các em. Dù thiếu thốn tình cảm, gia đình ông vẫn đủ sống cho đến khi sa sút. Lúc đó cả ba đứa trẻ cần phải tìm việc làm để trợ giúp cho gia đình.

Cậu bé Albert vốn yếu ớt và trải qua nhiều vấn đề về sức khỏe trong suốt tuổi trẻ của mình. Lúc 5 tuổi, cậu phải vào viện để làm một tiểu phẫu về thận, cậu cũng phải vào viện vì viêm amidan cấp. Albert kể rằng ông đã 8 lần nhập viện chỉ trong độ tuổi từ 5 đến 7, có lần nhập viện kéo dài tới gần một năm. Cha mẹ ông rất ít hoặc hầu như không biểu lộ tình cảm gì để nâng đỡ cho ông trong suốt những năm đó, hiếm khi thăm nom hay khuyên nhủ ông. Ông nói mình đã học để đương đầu với những nghịch cảnh theo như cách ông nói là "tạo thành một sự trưởng thành dửng dưng với tình trạng bị bỏ rơi". Cha mẹ đã ly hôn khi ông 12 tuổi.

Thời trung học ông đã mơ ước trở thành người viết tiểu thuyết nổi tiếng nhất nước Mỹ. Kế hoạch cuộc đời ông đặt ra là hoàn thành việc học trung học, kiếm tiền đủ để có thể nghỉ hưu năm 30 tuổi và tự do viết mà không phụ thuộc vào tiền bạc. Cuộc suy thoái kinh tế thời đó đã làm ông không thể thực hiện mong ước, nhưng ông vẫn hoàn thành việc học với tấm bằng trung cấp về quản trị kinh doanh từ đại học thành phố New York. Năm 1938 ông trở thành người quản lý nhân sự của một hãng bán quà tặng và đồ trang trí.

Ellis dùng thời gian rỗi để viết truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, thơ vui, tiểu luận và sách tả thực. Ông cũng tìm cách viết về thể loại văn viễn tưởng vồn không phải xu hướng của ông, nhưng nhờ đó mà ông nhận ra tài năng của mình về văn tả thực. Năm 28 tuổi, ông đã hoàn thành khoảng hai tá bản thảo viết tay nhưng chưa có dịp đưa đi xuất bản.

Khả năng viết văn tả thực hướng ông viết về lĩnh vực bản năng giới tính của con người, và ông đã thu được nhiều hiểu biết cho chuyên luận về tự do tình dục. Rất nhiều bạn bè bắt đầu tìm tới ông để hỏi lời khuyên, và Ellis nhận ra rằng mình có thể tham vấn tốt như là việc viết. Năm 1942, ông bắt đầu việc nghiên cứu để đạt tấm bằng thạc sỹ tâm lý lâm sàng tại đại học Columbia nơi đã đào tạo những nhà tâm lý học theo trường phái phân tâm cổ điển. Ông bắt đầu tự thực hành bán thời gian về tham vấn giới tính và gia đình không lâu sau khi nhận bằng vào tháng 6-1943, trong khi vẫn học tập để đạt học vị tiến sĩ. Ellis bắt đầu xuất bản những bài viết mới ngay trước khi nhận bằng tiến sĩ. Vào năm 1946, ông đã viết một bài phê bình các trắc nghiệm nhân cách phóng chiếu dùng bút và giấy đang được sử dụng rộng rãi mà không được chuẩn hóa. Ông kết luận rằng chỉ có Bảng khảo sát nhân cách của đại học Minnesota (MMPI) mới là công cụ nghiên cứu chuẩn về nhân cách (Ellis,1946).

Sau khi đạt học vị tiến sĩ, Ellis tìm kiếm thêm cơ hội học tập về phân tâm học. Như hầu hết các nhà tâm lý học thời đó cảm thấy hấp dẫn bởi tính huyền bí và phức tạp của các lý thuyết của Freud. Không lâu sau khi nhận bằng tiến sĩ năm 1947, Ellis bắt đầu tiến hành tự phân tâm với sự giám sát của Richard Hulbeck (người đã được Herman Rorschach phân tâm) và lúc ấy là lãnh đạo khóa huấn luyện phân tâm tại Viện Karen Horney. Horney cũng để lại dấu ấn lớn trong tư tưởng của ông, dù là chỉ qua các tác phẩm của Alfred Adler, Erich Fromm và Hary Stack Sullivan cũng đóng vai trò định hình nên kiểu thức tâm lý học của ông.

Sự gia tăng về hiểu biết và kinh nghiệm trong phân tâm học càng làm cho ông băn khoăn về nguyên tắc khoa học và tính hiệu lực của nó. Đầu năm 1947, Ellis xuất bản bài viết "Thần giao cách cảm và Phân tâm học: Một bài phê bình về những nghiên cứu gần đây", bài đầu tiên trong một loạt bài về chủ nghĩa huyền bí phản khoa học và tôn giáo tính trong tâm lý học.

Sự tin tưởng của Ellis vào phân tâm học nhanh chóng thay đổi. Ông khám phá ra rằng khi ông gặp thân chủ chỉ một lần mỗi tuần hoặc thậm chỉ vài tuần một lần, họ vẫn tiến triển giống như khi ông gặp họ hàng ngày. Ông tạo thêm một vai trò năng động hơn, khuyên bảo và trực tiếp giải thích như khi ông tham vấn về lĩnh vực gia đình và giới tính. Thân chủ của ông dường như tiến triển tốt hơn là khi ông chỉ dùng kỹ thuật phân tâm một cách thụ động.

Khi kết thúc việc thực hành bán thời gian ở New York, Ellis làm việc toàn thời gian như một nhà tâm lý cho bang New Jersey và trở thành nhà tâm lý học hàng đầu của bang vào năm 1950. Tuy nhiên, ông rời cương vị lãnh đạo của Trung tâm Chẩn đoán New Jersey và phát triển công việc thực hành toàn thời gian của mình như một chuyên gia về tính dục. Ông là nhà tâm lý học ủng hộ cho xu hướng tự do tính dục và tính dục đồng giới.

Trong suốt thời gian đầu của sự nghiệp, ông kết hôn hai lần và cả hai đều kết thúc. Những người vợ và những người phụ nữ ông yêu đều không đem tới cho ông đứa con nào. Tất cả các cuộc tình đều chóng vánh và kết thúc trong nhiều xung đột. Đó cũng là bối cảnh để ông viết nên nhiều tác phẩm về chủ đề tính dục.

Do được nổi tiếng nhờ các tác phẩm đã xuất bản và lại có chuyên môn tinh thông về lĩnh vực tính dục con người, Ellis là một trong những nhà tâm lý học ít ỏi ở New York có khả năng kiếm tiền từ việc thực hành tâm lý. Ông nhận thấy rằng, hầu như tất cả những người nhiễu tâm thông thường đều có xu hướng viện dẫn ra những suy nghĩ không hợp lý và cứng nhắc. Điều mà Ellis nhận thấy là một khám phá lớn từ tác phẩm "Sự đau khổ, sự ngu ngốc và các triệu chứng" của Dollard và Miller (1950). Trong sự kết hợp của họ về các khái niệm phân tâm và hành vi, họ cho rằng tình trạng nhiễu tâm bị gây ra bởi sự ức chế có điều kiện các suy nghĩ và hành vi vốn đưa đến lo âu.

Tháng 1-1953, Ellis tách rời khỏi cách tiếp cận phân tâm và có xu hướng về trị liệu nhận thức. Ông đang chủ trương một cách tiếp cận tâm lý trị liệu mới mẻ, năng động và trực tiếp hơn. Năm 1955, ông đặt tên cho cách tiếp cận mới của mình là Trị liệu cảm xúc hợp lý (Rational-Emotive Therapy: RET), nó đòi hỏi nhà trị liệu giúp thân chủ hiểu biết rằng triết lý sống của họ bao gồm nhiều niềm tin gây ra cảm giác đau khổ của họ và họ cần thay thế những niềm tin phi lý bằng những niềm tin thích nghi hơn. Năm tiếp theo, Ellis bắt đầu giảng dạy kỹ thuật mới của mình cho những nhà trị liệu khác và vào năm 1957, ông công bố chính thức điều đầu tiên là trường phái trị liệu nhận thức hành vi đề nghị các nhà trị liệu giúp con người chỉnh sửa hành vi và suy nghĩ của họ như là sự trị liệu cho các nhiễu tâm.

Hai năm sau, Elllis xuất bản cuốn sách "Làm sao để sống cùng với chứng nhiễu tâm" dựa trên phương pháp mới của mình. Năm sau đó, Ellis giới thiệu một bài báo về cách tiếp cận mới của mình trong hội nghị của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ ở Chicago. Vào thời kỳ đó, đang thịnh hành trong tâm lý học thực nghiệm là chủ nghĩa hành vi, còn trong tâm lý học lâm sàng là các trường phái phân tâm học của Freud, Jung, Adler và Perls. Mặc dù cách tiếp cận của Ellis nhấn mạnh vào các phương pháp nhận thức, cảm xúc và hành vi, sự nhấn mạnh nhận thức của ông đã kích động hầu hết mọi người phản đối những ai theo tư tưởng của Alfred Adler. Do đó, ông thường được tiếp đón với sự thù nghịch tại các cuộc hội thảo chuyên môn và trong các bài viết. Đáng chú ý là trong các cơ hội ở nhiều cuộc hội nghị của APA, Pritz Perls người xây dựng nên liệu pháp Gestal thích viện dẫn tới "sự hợp lý" của Ellis một cách châm biếm trong khi hoàn toàn lờ đi các thành tố về hành vi và có trải nghiệm của RET.

Dù rằng việc phổ biến cách tiếp cận của mình khá chậm nhưng Ellis cũng đã lập được học viện của riêng mình. Học viện về trị liệu cảm xúc hợp lý được lập như một tổ chức không chính thức vào năm 1959. Năm 1968 nó được chính quyền New York gọi là một học viện tập huấn và làm lâm sàng tâm lý.

Cuốn sách thành công đầu tiên của ông là "Nghệ thuật và khoa học về tình yêu" xuất bản năm 1960, cho tới nay ông đã có hàng chục cuốn sách được xuất bản và hơn 600 bài viết về REBT, gia đình và giới. Năm 2005, cuốn sách thứ 78 của ông "Huyền thoại về lòng tự trọng" được xuất bản. Ông vẫn đảm nhận cương vị chủ tịch danh dự của viện mang tên ông ở New York, nơi cung cấp những chương trình tập huấn chuyên nghiệp và trị liệu cho cá nhân, gia đình và nhóm.

Albert Ellis mất ngày 24-7-2007 sau một thời gian dài lâm bệnh.
:

Erik Erikson

Erik Erikson sinh năm 1905 tại Franfurt (Đức). Ông đã từng học nghệ thuật và vẽ chân dung trẻ em.


 

Sau đó ông vào học tại viện phân tâm học của thành phố Viên (Áo) và được đào tại trực tiếp bởi S.Freud, Anna Freud và nhiều nhà phân tâm tài năng khác.

Năm 1933, ông trở thành nhà phân tâm trẻ em đầu tiên của Boston (Mỹ), giảng dạy tại trường y Harvard và nhiều viện danh tiếng khác, cuối cùng ông làm việc tại bệnh viện ở San Fracisco.

Các tác phẩm chính: Trẻ em và xã hội(1950), Bản sắc, Tuổi trẻ và khủng hoảng (1968).

Với việc rời khỏi cách tiếp cận sinh học của Freud, ông xem xét nhiều hơn ảnh hưởng to lớn của yếu tố văn hoá xã hội tới sự phát triển của nhân cách.
Lý thuyết phân tâm học của S.Freud là nền tảng cho sự ra đời của hàng loạt các lý thuyết tâm lý khác nhau, trong đó có lý thuyết tâm lý xã hội (psychosocial theory) của Erikson.

Ông chia quá trình phát triển con người thành 8 giai đoạn trong đó có 5 giai đoạn tâm lý xã hội mô tả đặc điểm quá trình phát triển nhân cách trẻ. Trong mỗi giai đoạn có một mâu thuẫn trọng tâm cần được giải quyết dứt điểm để có thể ứng phó thắng lợi với các mâu thuẫn ở các giai đoạn sau

Quan điểm của Erikson được chấp nhận rộng rãi ở các nước phương Tây hiện nay.

F

:

Viktor Emil Frankl

Viktor Emil Frankl M.D., Ph.D. ( 26/3/1905 – 2/9/1997) là nhà thần kinh học người Áo và là nhà tâm thần học được biết đến như một nhân chứng sống của lò diệt chủng của Đức quốc xã.


 

Frankl đặt nền móng cho Ý nghĩ Trị liệu (logotherapy), một liệu pháp dựa trên sự phân tích ý nghĩa của sự tồn tại. Quyển sách “Con người đi tìm ý nghĩa cuộc sống” (Man's Search for Meaning) (1946) kể về những trải nghiệm của ông khi còn ở Trại tập trung và mô tả phương pháp tiếp cận có tính trị liệu trong việc tìm kiếm ý nghĩa trong tất cả những dạng sinh tồn, ngay cả trong tình trạng khắc nghiệt nhất vẫn có một lý do để tiếp tục sống. Ông gọi đó là một liệu pháp hiện sinh (existential therapy).

Frankl sinh ra ở Áo trong một gia đình công chức người Do Thái. Ông đã bộc lộ niềm yêu thích tâm lý học từ rất sớm. Sau khi tốt nghiệp trung học ông học y khoa tại Đại học Viên và sau đó vào chuyên khoa thần kinh học và tâm thần học, tập trung vào những chủ đề về trầm cảm và tự sát. Ông có những liên hệ cá nhân với Sigmund Freud và Alfred Adler.

Năm 1924 ông là hiệu trưởng trường Sozialistische Mittelschüler Österreich. Trong vị trí đó ông đã cung cấp chương trình tham vấn đặc biệt cho những sinh viên trong suốt thời gian học cho đến lúc họ tốt nghiệp. Trong suốt nhiệm kỳ không một sinh viên nào trong trường ông có hành vi tự sát. Thành công của chương trình này được sự chú ý của Wilhelm Reich và ông được mời đến Berlin (Đức).

Năm 1933-1937 ông dẫn đầu chương trình Selbstmörderpavillon (suicide pavilion), của Bệnh viện Đa khoa tại Vienna. Tại đây ông đìêu trị cho hơn 30.000 phụ nữ có xu hướng tự sát. Ông bắt đầu mang những quan điểm riêng vào trong công việc tại bệnh viện Rothschild, nơi ông làm trưởng khoa Thần kinh học và làm việc như một bác sĩ phẫu thuật não bộ. Trong một thời gian dài quan điểm y khoa của ông đã giữ cho những bệnh nhân mắc bệnh nan y được bình an. Tháng 12-1941, ông kết hôn với Tilly Grosser.

Tháng 9-1942, ông bị chuyển đến trại tập trung Theresienstadt. Vào những tuần cuối của cuộc chiến, Frankl được giao việc tại một trại cứu tế, tại đây ông cùng đã cố gắng chữa trị cho những người đồng cảnh tù khỏi sự nản lòng và ngăn chặn tự sát. Ông làm việc trong khu chăm sóc tâm thần, điểm khám thần kinh tại khu B IV, chịu trách giữ gìn và duy trì sự sạch sẽ và chăm sóc tâm thần cho những người bệnh, những người kiệt sức. Tháng 4 năm 1945 ông được giải phóng khỏi trại tập trung, chỉ còn người chị của ông là sống sót, vợ và gia đình ông đều chết trong trại tập trung Auschwitz.

Những trải nghiệm của ông và của những người đồng cảnh tù phải chịu đựng trong trại tập trung hình thành nên quan điểm chính của ông và là nền tảng của liệu pháp ý nghĩa (logotherapy) sau này: trong tình trạng phi lý, đau khổ cùng cực và mất cả nhân phẩm, cuộc sống vẫn có ý nghĩa tiềm tàng và do đó sự chịu đựng là có ý nghĩa.

Năm 1946-1971, ông được bổ nhiệm làm việc tại bệnh viện ngoại trú thần kinh học Vienna. Năm 1947, ông kết hôn với Eleonore Kathrina Schiwindt và có một con gái.

Năm 1955, ông được mời làm giáo sư về thần kinh học và tâm thần học tại Đại học Vienna và Đại học Harvard.

Sau chiến tranh, ông viết hơn 32 cuốn sách (một số quyển đã được dịch ra 10-20 thứ tiếng khác nhau) và được biết đến như người sáng lập nên Liệu pháp Ý nghĩa (logotherapy). Ông nhận 29 bằng tiến sĩ danh dự. Ông mất vì tuổi già vào ngày 2 tháng 9 năm 1977 tại Vienna.

Các tác phẩm nổi tiếng

- On the Theory and Therapy of Mental Disorders (1938)

- Man's Search for Meaning (1945)

- Man's Search for Ultimate Meaning (1959)

- Psychotherapy and Existentialism (1967)

- The Will to Meaning. Foundations and Applications of Logotherapy­ (1969)

:

Erich Fromm

Erich Fromm (1900 – 19820) sinh ra ở Frankfurt, Đức, tại một gia đình do thái chính thống. Ông chào đời cùng năm mà Freud xuất bản cuốn chuyên đề đầu tiên của mình "Giải thích các giấc mơ".


Cha ông là một người nội tâm, cách biệt lo lắng và buồn rầu, mẹ ông thì thường xuyên ủ rũ. Ông mô tả mình là một đứa trẻ “không thể chịu nổi và ám ảnh” . Khi Fromm 12 tuổi, ông thực sự bị sốc bởi hành vi của một người bạn của bố mẹ, một hoạ sĩ 25 tuổi - người chọn từ bỏ nghiệp vẽ của mình để giành cả cuộc đời mình cho người cha goá bụa. Có thể đơn giản chỉ là Fromm ghen tuông, nhưng mà ông không thể hiểu nổi tại sao người phụ nữ trẻ kia thích người đàn ông già chẳng có gì là thu hút kia. Một thời gian ngắn sau đó cha cô ta chết và người phụ tự kết liễu cuộc đời mình. Cô ta mong mỏi sẽ được chôn với người cha trong cùng một mồ. Ám ảnh bởi vụ tự tử, Fromm day dứt về quyết định của cô gái và sức hút của cô về phía người cha.

Năm 1922, sau khi nhận bằng tiến sỹ của đại học Heidelberg, Ông được đào tạo phân tâm học ở Viện Phân tâm học ở Berlin.

Năm 1933, ông đến Hoa Kỳ dạy ở Viện Phân tâm học Chicago và sau đó trở thành một người hành nghề tư ở thành phố NewYork. Sau đó, ông chuyển đến Mexico, gia nhập đội ngũ các giảng viên của đại học Quốc Gia và trở thành giám đốc của Viện phân tâm học Mexico.

Điểm khởi đầu từ những khó khăn bản thân ông đã trải qua đó là cuộc sống gia đình bất ổn, vụ tự tử, cách cư xử của cả một quốc gia trong chiến tranh đã khiến Fromm mong muốn lý giải về nguyên nhân của những bất hợp lý này. Ông viết: “Niềm say mê chính của tôi là lập kế hoạch một cách rõ ràng. Tôi muốn hiểu những quy luật điều khiển cuộc sống cá nhân con người, và những quy luật cuả xã hội”. Ông hoài nghi rằng nhân cách con người bị ảnh hưởng một cách sâu sắc bởi áp lực xã hội, kinh tế, chính trị và lịch sử, và một xã hội ốm yếu sinh ra những cá nhân ốm yếu. Vì vậy, quan điểm của ông về nhân cách được hình thành dựa trên những phương hướng trực giác, hình thành từ kinh nghiệm của chính bản thân ông và sau đó được trau chuốt theo những phương hướng có tính thực nghiệm.

Fromm bắt đầu nghiên cứu về những nguyên nhân của những hành vi bất hợp lý ở trường đại học Heidelberg, nơi mà ông nghiên cứu tâm lý học, xã hội học và triết học. Ông cưới nhà phân tích tâm lý đầu tiên của ông, Freida Reichmann, người lớn hơn ông 10 tuổi. Một nhà viết tiểu sử của Horney viết rằng, Fromm ở giai đoạn này đã có sự cuốn hút về người phụ nữ hơn tuổi đó, những cử chỉ của người mẹ... Cha của Erich đã nói với Freida Reichmann trong ngày cưới rằng: Ta rất vui vì bây giờ con sẽ chăm sóc con ta. Là đứa con yêu của mẹ, Erich rất phụ thuộc, một hoàng tử cần được chăm nom”.

Vào những năm 30, Fromm đã viết những bài phê bình tranh luận về sự phủ nhận của Freud đối với việc thừa nhận ảnh hưởng kinh tế xã hội tới nhân cách. Cũng giống Horney, ngay từ lúc đầu Fromm tin tưởng những bài phê bình của ông về phân tâm học Freud chỉ là để trình bày chi tiết về vị trí của Freud chứ không phải để thay thế nó. Ông coi bản thân mình “như một học sinh và một nhà phiên dịch về Freud, người đang cố gắng đem tất cả những khám phá quan trọng nhất của mình để làm giàu thêm chúng và nghiên cứu sâu thêm bằng cách giải phóng chúng khỏi một vaì thuyết libido hạn hẹp”.

Tuy nhiên Fromm tiến xa hơn tầm nhìn của Freud trong việc phát triển việc tiếp cận của ông tới nhân cách đến nỗi ông trở nên “ghét trong sự thiết lập học thuyết Frued với một niềm say mê đặc biệt”.

Vào năm 1934, Fromm di cư tới Mỹ để trốn mối đe doạ của Đức quốc xã ở Đức. Ông tới Chicago làm việc với Horney và sau đó theo bà tới NewYork. Ông ly dị vợ và cặp bồ với Horney. Trong những năm đó, những ý tưởng của Horney tác động rất lớn đến công việc của Fromm, cái ơn mà ông ít khi đền đáp.

Fromm giới thiệu học thuyết của mình trong một vài cuốn sách được viết với văn phong phổ thông với ý định cho công chúng hơn là cho các trường đại học. Ông dạy tại các trường đại học ở Columpia và Yale, và thiết lập trụ sở đào tạo phân tâm học tại trường dược của Đaij học quốc gia Mexico. Ông hoạt động tích cực trong hoạt động vì hoà bình vào những năm 1960 và 1970 và giúp đỡ thiết lập SANE , tổ chức về một chính sách hạt nhân lành mạnh. Ông chống lại chiến tranh lạnh, trang bị vũ khí hạt nhân và chiến tranh Việt Nam.

Ông mất tại nhà riêng ở Thuỵ Điển vào năm 1980.

L

:
L.X Vugotxki (1896 - 1934)
1

Lép Xê-mi-ôn-vích Vư-gôt-xki sinh ngày 5-11-1896 ở thị trấn Ooc-sa, nước cộng hà Bạch Nga, sau chuyển về sinh sống ở thị trấn Gô-men, gần biên giới Bạch Nga - Ba Lan và tốt nghiệp phổ thông trung học (lớp 10) ở đó.

Cho đến năm 1913 thì ông được vào trường Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va. Tốt nghiệp Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va ông lại quay về Gô-men làm giáo viên. Bố là một nhân viên ngân hàng, mẹ là người có học thức.

Khi học phổ thông trung học, ông đã khởi xướng tổ chức các cuộc hội thảo về văn học, lịch sử và triết học, đề xướng các chủ đề hội thảo thường được tập thể tán thưởng, điều khiển các hội thảo tất thành công, bản thân trình bày các báo cáo có nội dung sâu sắc và hấp dẫn, kết luận hội thảo rất rành mạch, đầy thuyết phục. Nhờ vậy, sau này ông đã trở thành một nhà giáo dục nổi tiếng và người tổ chức giỏi, nghiên cứu khoa học.

Ngay từ phổ thông trung học, Vư-gôt-xki đã rất quan tâm đến tri thức lịch sử và mặt triết học của lịch sử. Ông sớm đi sâu nghiên cứu tác phẩm “Đạo đức học” của Spi-nô-da và sau này ông nhiều lần quay lại tác phẩm này. Ông rất thích môn nghệ thuật và thơ, nhất là thơ của Pus-kin, nhà thơ Nga vĩ đại, kịch “Hăm-lét” của Sếch-pia. Sau này, lúc mới gần 30 tuổi, ông đã hoàn thành tác phẩm đồ sộ “Tâm lý học nghệ thuật” rất nổi tiếng, đã dịch sang tiếng Việt và xuất bản hai lần. Ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tác phẩm “Ý tưởng và ngôn ngữ” của A.A. Po-tep-nhi-a.

Năm 1913 Vư-gốt-xki thi vào đại học tổng hợp Mat-xcơ-va. Đúng năm đó, Viện Tâm lý học được thành lập trong khoa sử-văn, do Su-kin tài trợ và G.I Tren-pa-nốp làm viện trưởng.

Cùng một lúc, Vư-gốt-xki học cả trường Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va và cả trường Đại học tư thục của Sa-nhi-áp-xki. Vư-gốt-xki đi sâu vào lịch sử, triết học và phê bình văn học. Công trình khoa học đầu tiên của ông phân tích tác phẩm “A-na Ka-rê-ni-a” của Tôn-xtôi và tác phẩm “Phê-ô-đo” của Đốt-xtô-ép-ki. Ngay từ lúc còn là sinh viên, ông đã công bố một số bài viết về trường phái tượng trưng cho nghệ thuật Nga và phê bình một số vở kịch.

Những năm ông học ở đại học là những năm sau cách mạng 1905 và trước cách mạng 1917.

Từ trường phổ thông trung học, ông đã chú ý đọc và nghiên cứu “Hăm-let”, bây giờ là sinh viên lại càng nghiên cứu nhiều hơn lẽ sống và cái chết của nhân vật trong kịch Sếch-pia.

Năm 1917, trước khi cách mạng tháng 10 đại thắng, Vư-gốt-xki tốt nghiệp khoa luật trường Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va. Ông rời thủ đô về Gô-men. Ở đây bị bọn Bạch vệ Ba-lan đe dọa, đầu 1918, quân Đức tấn công và chiếm đóng. Nước Nga nội chiến. Vài tháng sau đó Gô-men được giải phóng, chính quyền Xô Viết được thiết lập, ông trở về quê hương, bắt đầu làm giáo viên dạy môn văn, đồng thời cùng với người em họ D.I. Vư-gốt-xki và bạn S.F.Đốp-kin mở nhà xuất bản “Các thế kỷ trước và hôm nay”.

Vư-gốt-xki vẫn tiếp tục dạy học, dạy văn, lịch sử nghệ thuật, tâm lý học. Nhưng phần lớn năng lực của mình ông vẫn tập trung vào tâm lý học, nhất là tâm lý học sư phạm. Ông được cử làm giảng viên thường trực về tâm lý học duy vật và giáo dục học Mác-xít hiện đại, dạy văn ở các khoa công nông. Đây cũng là thời kỳ ông có những thay đổi cực kỳ quan trọng trong thế giới quan theo quan điểm duy vật biện chứng.

Tháng 8-1922, ông có tham luận tại Hội nghị khoa học thành phố “Về phương pháp giảng dạy văn ở trường trung học”. Ông đã đặt vấn đề phương pháp giảng dạy văn theo các đặc điểm ý thức của trẻ, nhấn mạnh khía cạnh giáo dục đạo đức trong dạy văn (ví dụ qua các bài thơ ngụ ngôn), chú ý nghiên cứu cơ chế tâm lý, khí chất của trẻ trong các tranh vẽ của các em.

Trong thời kỳ này, ông đã đi vào một đề tài nghiên cứu cụ thể: mối quan hệ giữa các sự kiện ý thức với các sự kiện ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ý tưởng và ngôn từ. Ý tưởng thì không thấy được nhưng ngôn từ thì lại là một hiện tượng có thể phân tích khách quan được. Chính ở đây đã hé ra một con đường tiến tới thực nghiệm phân tích thế giới tâm lý bên trong.

Năm 1924, ông viết ‘Tóm tắt tâm lý học sư phạm”, “Lý thuyết phản xạ có điều kiện”.

Năm 1926, vừa tròn 30 tuổi, ông viết cuốn sách đầu tiên là “Tâm lý học sư phạm” phản ánh kết quả nghiên cứu và những suy nghĩ về khoa học này từ hồi ở Gô-men.

Năm 1925, Lu-na-tra-xki, bộ trưởng Bộ giáo dục, cử Vư-gôt-xki sang Anh dự hội nghị khoa học quốc tế về đào tạo và giáo dục trẻ em câm - điếc. Tại hội nghị này, ông đã có một báo cáo khoa học trình bày các nguyên tắc của nhà trường lao động dạy các em học sinh khuyết tật, nói lên sự thống nhất tinh thần khoa học sâu sắc, sáng tạo với tinh thần trách nhiệm xã hội rất cao, luôn luôn gắn khoa học phục vụ cuộc sống, gắn sinh mệnh của bản thân với sự phát triển của xã hội.

Năm 1925-1926, Vư-gôt-xki sáng lập phòng thí nghiệm tâm lý học trẻ em có khuyết tật đặt trong trạm y tế học đường của Bộ giáo dục. Sau đến năm 1929, phòng thí nghiệm này chuyển thành Viện nghiên cứu thực nghiệm tật học trực thuộc Bộ giáo dục (nay là Viện tật học thuộc Viện hàn lâm giáo dục Nga).

P

:
 
Pham Minh Hac
Phạm Minh Hạc

GS, VS Phạm Minh Hạc sinh ra và lớn lên tại thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nơi có truyền thống yêu nước cách mạng và hiếu học. Hai cụ thân sinh đều là tiểu thương nhưng trong ý chí của cậu bé Hạc đã sớm hình thành một tinh thần thượng văn. Niềm say mê học hành đó lớn dần theo năm tháng.

Khi đang là sinh viên Văn khoa trường Đại học Văn khoa Hà Nội, Phạm Minh Hạc đã có những suy nghĩ khoa học về tâm lý và con người. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp Văn khoa, ông học tâm lý học để trang bị cho mình thêm nhiều kiến thức về tâm lý và đặc biệt là về con người. Theo ông, khi người ta nghiên cứu về tâm lý thì đánh mất nghiên cứu về con người nói chung. 50 năm tâm lý học của thế kỷ 20 đã không chú trọng đến nghiên cứu con người trong khi tâm lý học là khoa học trung tâm trong vấn đề con người. Trong công cuộc đổi mới, quan niệm về con người phải đặt lên rất cao. Cương lĩnh 91 của Đảng Cộng sản Việt Nam nói con người là mục tiêu đổi mới. Bởi vậy, khi có cơ hội học về tâm lý, ông đã dành phần lớn thời gian dày công nghiên cứu con người.

Từ năm 1968 đến 1970, ông có 11 bài viết về tâm lý, con người đăng ở một số tạp chí lớn của Liên Xô, Colombia, Nhật Bản và Tạp chí Thế giới. Từ đó đến nay, ông còn có nhiều bài viết khác đăng trên các tạp chí như Tạp chí xã hội học Mỹ. Năm 2006, Oxford Press xuất bản một cuốn sách về nghiên cứu giá trị thế giới trong đó có một chương của ông. Ngoài ra, còn rất nhiều báo cáo khoa học như Báo cáo tham luận xã hội học về nghiên cứu giá trị châu Á tại Tokyo, Nhật Bản vào tháng 12/2006. Nhờ được đào tạo có hệ thống về tâm lý học ở nước ngoài đã giúp GS, VS Phạm Minh Hạc có được những kiến thức sâu rộng về ngành khoa học mà ông theo đuổi.

Con người là gì? Bản chất của con người là gì? Con người trong lịch sử tư tưởng phương Tây, phương Đông và trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là như thế nào? Sau Đức (thế kỷ 19), Liên Xô và Mỹ là hai trung tâm tâm lý học của thế kỷ 20. Cấu trúc người, cấu trúc nhân cách là vấn đề rất phức tạp, rất khó, phải dày công nghiên cứu. Cấu trúc con người bao gồm cả cấu trúc nhân cách, không chỉ ở trong con người mà còn nằm ở ngoài con người. Khi nghiên cứu cấu trúc người nói chung, cấu trúc tâm lý, cấu trúc nhân cách nói riêng, phải đề cập đến một loạt cặp phạm trù: tinh thần - thể xác; phẩm chất - thân thể; nhân cách - sinh thể; lý tưởng - cuộc sống; động cơ - hành vi (ứng xử)…

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã mở ra một thời kỳ mới phát triển đất nước theo đường lối đổi mới. Đường lối này đã mang lại những kết quả to lớn, cực kỳ quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Trong thời kỳ này, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển khoa học nước nhà có các Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước nghiên cứu về con người. GS, VS Phạm Minh Hạc cùng nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào việc hoàn thành các chương trình trên. Trong đó, ông được giao phụ trách 3 chương trình: KX 07.01 - Phương pháp luận nghiên cứu con người; KHXH 04 - Phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; KH 05.07 - Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường.

Vừa giảng dạy vừa kết hợp nghiên cứu khoa học, GS, VS Phạm Minh Hạc đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển nền tâm lý học, vào sự nghiệp nghiên cứu con người Việt Nam bằng vốn tri thức về tâm lý học và giáo dục học. Ông cùng các đồng nghiệp ở Đại học Sư phạm I viết cuốn sách giáo khoa đầu tiên về tâm lý học tại Việt Nam trên những tư liệu của Việt Nam và tiếp thu thành tựu của thế giới. Năm 1987, ông cùng 81 cán bộ, giáo viên làm chương trình về "Đổi mới tư duy trong giáo dục" và sau 6 tháng xuất bản cuốn sách "10 tư tưởng đổi mới trong giáo dục". Ông cũng đã có những thực nghiệm đo đạc về tâm lý từ năm 1963 ở trường Yên Hòa, Hà Nội; nghiên cứu tâm lý học về nhân cách các học sinh hư tại trường phổ thông Công nông nghiệp ở Thủy Nguyên, Hải Phòng; nghiên cứu tâm lý học (nhân cách) học sinh Bắc Lý; tổ chức hoạt động tâm lý của một số trường như trường Ngô Sĩ Liên làm cơ sở nghiên cứu khoa học; chỉ đạo thực nghiệm phân ban ở 2 trường Lê Hồng Phong (Nam Định) và Hoàn Kiếm (Hà Nội, trường Trần Phú ngày nay).

Trong thời gian làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông thấu hiểu nói đến con người là phải nói đến giáo dục. Bước vào thế kỷ XXI, cả loài người đều tập trung chăm lo giáo dục. Vấn đề giáo dục động chạm đến từng nhà, từng người, đến vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc. Khi hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đang có nhiều bất cập cả về người học, người dạy, người quản lý và chương trình giáo dục, để chấn hưng nền giáo dục nước nhà là một ước vọng mòn mỏi không chỉ của GS, VS Phạm Minh Hạc mà còn của tất cả những người theo đuổi sự nghiệp trồng người. Muốn thực hiện chất lượng giáo dục, cần đặc biệt quan tâm đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục. Mà tất cả những điều đó đều tập trung vào yếu tố con người. Theo GS, VS Phạm Minh Hạc, muốn định nghĩa về con người phải qua ba khái niệm: cá thể; cá nhân; nhân cách. GS luận rằng, con người với tư cách là tột đỉnh tiến hóa của thế giới sinh vật và tiếp tục phát triển con người là đại diện của lòai mà ta gọi là cá thể; với tư cách thành viên của xã hội, ta gọi là cá nhân như là một thực thể độc lập. Khi nó có đủ khả năng trở thành chủ thể của hoạt động học tập, lao động, vui chơi, thì lúc đó con người trở thành nhân cách. Khi nói "cá thể người" là thành phần của loài người đã bứt khỏi loài vật, nó vừa chứa đựng những thành tựu tiến hóa của thế giới vật chất, thế giới sinh vật, vừa chịu tác động các quy luật trong vũ trụ, vừa chịu tác động của các quy luật sinh vật, đồng thời, bắt đầu chịu tác động của các quy luật xã hội.

Tiến lên một bước nữa trong thang phát triển, ta có "cá nhân người", một thành viên của xã hội, khách thể mang tính chất "tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Sự tổng hòa này, vừa chịu ảnh hưởng của chúng, vừa góp phần tạo ra chúng. Từ đây, sự phát triển tâm lý chủ yếu diễn ra ở ngoài cá thể, theo quy luật lịch sử - văn hóa, gọi là "công dân", "thành viên của cộng đồng". Sự hoạt động của con người với tư cách là một công dân gắn liền với trách nhiệm cộng đồng xã hội.

Theo GS, VS Phạm Minh Hạc, nấc thang phát triển cao nhất của con người chính là "nhân cách". Nhân cách thể hiện sự phân biệt khi nào bản thân là chủ thể, khi nào bản thân là khách thể. Dưới góc độ của giá trị học, nhân cách con người chính là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội; mức độ phù hợp càng cao, thì nhân cách càng lớn, có tính độc lập càng cao. Như vậy, nhân cách con người đước đánh giá bằng chuẩn mực (hệ giá trị) của xã hội; bằng sự đóng góp của cá nhân cho cộng đồng xã hội. Nhiệm vụ của người lãnh đạo là phải là cho nhân cách mỗi người hướng tới gần hệ giá trị của đất nước.

Nhận định của GS, VS Phạm Minh Hạc, con người là tồn tại lịch sử - xã hội, tồn tại văn hóa. Con người sống, ta gọi là hoạt động. Hoạt động của con người bình thường luôn gắn với gia đình, làng xóm, phố phường, cộng đồng xã hội, tức là mang bản chất xã hội.

Cách hiểu con người theo ba nghĩa như vậy, chúng ta sẽ có thái độ ứng xử với con người một cách đúng đắn khi chúng ta tôn trọng quyền sống, quyền công dân, quyền con người, quyền phát triển của mỗi con người.

Nhân loại đã có hàng nghìn, thậm chí hàng vạn cuốn sách bàn về con người. Song, định nghĩa về con người như GS, VS Phạm Minh Hạc đã định nghĩa, quả là có những góc cạnh riêng của nó.

Giảng dạy, quản lý, nghiên cứu suốt từ năm 1962 đến nay, GS, VS Phạm Minh Hạc đã phải chia đều thời gian một cách khoa học và hợp lý để có được những đóng góp hiệu quả nhất. Làm chủ nhiệm nhiều công trình cấp nhà nước, đồng tác giả và chủ biên hàng chục cuốn sách, tham gia viết nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước, giữ nhiều chức danh khoa học, GS, VS Phạm Minh Hạc đã gắn bó cả cuộc đời cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình. Bước sang tuổi 74, cái tuổi thất thập cổ lai hy, ông vẫn như con tằm nhả tơ để tiếp tục cống hiến cho nền khoa học Việt Nam, đặc biệt là nền khoa học nghiên cứu con người nhiều hơn nữa.

Hiếm thấy một nhà khoa học nào vừa hoàn thành tốt công tác lãnh đạo, quản lý, vừa nghiên cứu khoa học sâu sắc. Bản lĩnh, sự trung thực trong quản lý và nghiên cứu khoa học và nhân cách của GS, VS Phạm Minh Hạc đã toát lên một nét đẹp văn hóa chân phương.

** Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc, sinh ngày 26-10-1935 tại thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

** Học đại học Văn khoa Hà Nội (1954-1955), tốt nghiệp Đại học Tâm lý học (1962); Tiến sĩ Tâm lý học (1971), Tiến sĩ Khoa học Tâm lý học (1977) tại Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Mátxcơva; được phong Giáo sư (1984), phong Viện sĩ Hàn lâm khoa học chính trị Nga (1999).

** Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI, VII, VIII (1986-2001); Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII (1981-1991); Ủy viên thư ký Ủy ban KHKT của Quốc hội khóa VII; Viện phó, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục (1980-1987); Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1985-1990); Thứ trưởng thứ nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo (1990-1996); Bí thư Đảng ủy khối khoa giáo trung ương (1991-2000); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam 91989-1996); Phó chủ tịch Ủy ban Dân số và kế hoạch hóa gia đình (1990-1996); Chủ tịch Ủy ban quốc gia chống mù chữ (1989-2001); Phó Trưởng ban thứ nhất Ban Khoa giáo Trung ương (1996-2001); Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương (1996-2001), Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (1983-1987), Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục (1983-1987), Báo Dân trí (1997-2001).

** Chuyên gia cao cấp Ban Khoa giáo Trung ương (từ 2003); Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (2001-2006); Viện trưởng Viện Nghiên cứu con người (1999-2006); Ủy viên Hội đồng khoa học Viện Khoa học xã hội Việt Nam (từ 1999); Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 2005).

** Ủy viên Hội đồng tư vấn khoa học Liên đoàn nghiên c

:
Jean Piaget - Chân dung và sự nghiệp

Jean Piaget sinh ngày 9/8/1896 ở Neuchattel, Thụy Sỹ. Bố là nhà sử học chuyên về văn học trung cổ, theo Piaget, là một người có đầu óc phê phán, không sợ đương đầu với đấu tranh khi phát hiện ra lịch sử bị bóp méo cho phù hợp với truyền thống đáng kính.


Mẹ thông minh, năng nổ và nhân hậu nhưng thần kinh dễ bị kích động. Piaget vừa muốn bắt chước bố mình, vừa muốn trốn thoát vào một thế giới riêng, thế giới của lao động nghiêm túc. Piaget nhận ra rằng, hoàn cánh sôi sục của gia đình khuyến khích nơi ông sự quan tâm tới lý thuyết phân tâm.

Đồ vật mà Piaget quan tâm là động cơ máy móc, vỏ ốc, chim và các hóa thạch. Một trong những bài viết đầu tiên là một cuốn sách nhỏ mô tả sự kết hợp một đầu xe lửa với một toa tàu rồi đến một con chim sẻ bị bệnh bạch tạng mà Piaget quan sát thấy trong một công viên. Điều này xảy ra khi Piaget mới lên 10 tuổi. Triển lãm bảo tàng ở địa phương về về vạn vật học đã dẫn Piaget tới giúp cho ông giám đốc bảo tàng bộ sưu tập cá nhân về động vật nhuyễn thể (trai, ốc, hến,…). Thế là Piaget đã đi vào nghiên cứu các động vật thân mềm, một lĩnh vực thu hút sự chú ý của ông nhiều năm tiếp theo. Những xuất bản của ông về động vật thân mềm được nhiều nhà vạn vật học quan tâm đến. Ông được mời vào làm trong một bảo tàng ở Geneve. Song ông đã từ chối vì khi đó ông chưa học hết trung học. Piaget không tránh khỏi những khủng hỏang của tuổi thanh thiếu niên. Mâu thuẫn giữa giáo lý và kiến thứ khoa học thúc đẩy Piaget say mê nghiên cứu đọc Bergson, Kant, Spencer, A.Comte, Durkheim, W.James, …

Piaget tiếp tục viết về các vấn đề triết lý. Ông nói: “Tôi viết thậm chí chỉ để cho mình tôi thôi, vì tôi không thể nghĩ mà không viết, song cái tôi viết cứ theo một hệ thống dường như đó là một tài liệu xuất bản”. Các chủ đề chính xoay quanh chẳng hạn, sự tổ chức lôgíc của hành động quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Piaget tiếp tục theo học chính quy trong ngành vạn vật học và đạt bằng tiến sĩ với một luận án về động vật nhuyễn thể ở trường đại học Neuchatel ở tuổi 20, vào năm 1918. Song cũng không thiết tha dành cả cuộc đời của mình cho môn học đó. Sau khi tham quan các phòng thực nghiệm tâm lý ở Zurich và thăm dò chóng vánh thuyết phân tâm, Piaget học hai năm ở Sorbonne về tâm lý học và triết học.

May thay, trong lĩnh vực tâm lý học phát triển, gặp được Simon, một người tiên phong trong lĩnh vực phát triển các test trí lực. Simon, do được sử dụng phòng thí nghiệm của A.Binet ở Paris, đã gợi ý cho Piaget chuẩn hóa test lập luận của Binet trên trẻ em Paris. Song sự quan tâm thú vị của ông nảy sinh khi bắt đầu hỏi về trẻ những lý do ẩn dụ trong các câu trả lời đúng và sai. Ông bị cuốn hút bởi các quá trình tư duy có vẻ dẫn tới câu trả lời trong các đối thoại đó. Piaget sử dụng các các kĩ thuật của ngành tâm thần ông đã học được trong quá trình phỏng vấn bệnh nhân tâm thần tại các lớp học tại trường Sorbonne. Piaget tiếp tục trong hai năm. Piaget tóm tắt kinh nghiệm đó như sau:“Cuối cùng tôi đã tìm thấy lĩnh vực nghiên cứu… sau giai đoạn lý thuyết, bắt đầu thực nghiệm trong lĩnh vực tâm lý mà tôi muốn bước vào song chưa tìm được vấn đề thích hợp…

Mục đích của tôi: khám phá ra một loại phôi thai học cho trí thông minh, phù hợp cho quá trình đào tạo của tôi về sinh học. Từ đầu tôi đã nghĩ là mối quan hệ giữa cơ thể với môi trường được mở rộng và cả cho vương quốc của kiến thức, nổi lên ở đây như vấn đề của mối quan hệ giữa chủ thể hoạt động hoặc tư duy với các vật thể thuộc kinh nghiệm của người đó. Nay tôi đã có điều may mắn là nghiên cứu vấn đề dưới cái tên Tâm lý học phát triển” (1952)Việc xuất bản sau đó ba bài viết dựa trên các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm của Binet đã dẫn tới việc Piaget trở thành giám đốc nghiên cứu ở Viện J.J Roussean ở Gơneve. Piaget dự kiến chỉ dành năm năm cho nghiên cứu tâm lý trẻ em. Nhờ được nghiên cứu tự do và dễ dàng cho địa vị mới này, Piaget đã xuất bản 5 cuốn sách: ngôn ngữ và tư duy ở trẻ em (1923), phê phán và lập luận ở trẻ em (1924), quan niệm của trẻ em về thế giới (1926), phán xét của trẻ em về Đạo đức (1932).Các sách được đọc và bàn luận rộng rãi.

Piaget nổi tiếng là một nhà tâm lý học trẻ em tuy rằng không có một bằng đại học nào về bộ môn tâm lý. Danh tiếng của Piaget nổi lên như cồn ở châu Âu. Sự chú ý của công chúng phần làm làm phiền Piaget vì ông coi các ý kiến trong các cuốn sách đó là rất sơ đẳng, chưa phải là những khẳng định cuối cùng như nhiều người đã tưởng lúc đó.

Trong vài năm sau, Piaget tiếp tục nghiên cứu ở J.J Rosseau, dạy triết học ở đại học Neuchâttel, học tâm lý học hình thái và quan sát chính các con của mình.Từ năm 1929 – 1945, đạt nhiều chức vụ hàn lâm và hành chính ở Đại học Neuchâttel cũng như nhiều địa vị quốc tế như: Chủ tịch ủy ban Unesco của Thụy Sĩ. Có sự cộng tác phong phú với Alina Szeminska, Barbel Inhelder và Marcel Lambercier. Nghe nói về công trình của Piaget, A. Einstein đã động viên ông nghiên cứu khái niệm thời gian, tốc độ và vận động. Từ đó đưa ra hai cuốn sách đầy khiêu khích: khái niệm của trẻ em về thời gian (1946a) và khái niệm của trẻ em về vận động và vận tốc (1946b).

Năm 1940- 1950, được đánh dấu bằng một loạt các vấn đề về những dạng khác nhau của phát triển tâm lý, giáo dục, lịch sử của tư duy, lôgíc và lý thuyết về nhận thức. Piaget đã đạt đến các chức danh như: giáo sư tâm lý học các trường đại học Geneve và Sorbone, Giám đốc viện khoa học giáo dục và giám đốc phòng quốc tế giáo dục.Năm 1969, Hiệp hội Tâm lý học Mỹ tặng Piaget hai giải thưởng “Đóng góp xuất sắc cho khoa học” do tầm nhìn cách mạng đối với bản chất của kiến thức con người và trí thông minh sinh học. Piaget là người châu Âu đầu tiên nhận giải thưởng đó. Piaget tiếp tục câu đố về tư duy cho tới khi ông mất ngày 16 – 9 – 1980 ở tuổi 84. Ông đã viết 40 quyển sách và khoảng hơn 100 bài viết về tâm lý học trẻ em.


Page:  1  2  (Next)
  ALL