Printer-friendly version
Công trình NCKH của SV


Browse the glossary using this index

Special | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O
P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z | ALL

Đ

:

NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU TRONG “CHUYỆN LÀNG CUỘI”

RENOVATIONS OF LE LUU’S NOVEL FEATURES IN“CUOI VILLAGE’S TALE”

SVTH: Vũ Xuân Triệu

Lớp 06CVH2, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phong Nam

Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Bằng những số phận riêng, cuộc đời riêng, qua tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”, Lê Lựu đã soi chiếu hiện thực dưới nhiều chiều kích khác nhau. Những trang tiểu thuyết của ông vì thế, ánh hào quang dường như nhạt dần và có khi mất hẳn. Thay vào đó là chất đời tư của mỗi số phận, mỗi cuộc đời với những lấm lem đời thường nhất. Và đấy chính là một trong những điều mới mẻ mà Lê Lựu đóng góp cho nền tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.

ABSTRACT

By its own destinies, personal lives in “Cuoi village’s tale”, Le Luu has reflected the reality in many different dimensions. The halo of his novel’s pages, therefore, seems to gradually fade and sometimes clear away. Instead, that is the privacy of its own destinies, personal lives with spattering of daily life. And that is one of the new things that Le Luu contributes to Vietnam novels in the innovation era.

MỞ ĐẦU

* Lý do chọn đề tài

Kể từ sau năm 1975, Văn học Việt Nam đứng trước nhu cầu mở rộng hơn nữa trong việc phản ánh mọi mặt cuộc sống đa dạng và phức tạp, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn nhạt dần và được thay thế bởi cảm hứng đời tư thế sự. Các vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, về cái tôi… đã trở thành chủ đề nổi bật khiến cho văn học càng đổi mới mạnh mẽ. Người ta hình dung lại con người, thay đổi cách miêu tả, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu mới.

Trước thực tế đầy biến động của lịch sử, tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội” của Lê Lựu ra đời như một bức tranh sinh động, khắc hoạ chân thực những tháng ngày đất nước trong thời kỳ đổi mới. Tìm hiểu tác phẩm kể trên, ta sẽ hiểu thêm về thể loại tiểu thuyết của một thời kỳ văn học sôi động. Đồng thời qua đó hiểu được những đóng góp của nhà văn cho nền tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này.

* Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về Lê Lựu và các sáng tác của ông nói chung, tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội” nói riêng có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Những bài viết ấy hầu hết được tác giả tuyển chọn đưa vào cuốn Tạp văn của mình một cách khá đầy đủ. Tiêu biểu có một số bài viết như: “Lê lựu” – trích Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa; “Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Hải Ninh …

* Phạm vi – đối tượng nghiên cứu

Dựa vào đặc điểm thể loại tiểu thuyết và các tác phẩm, trong đề tài này chúng tôi cố gắng chỉ ra những chuyển biến về quan niệm con người, những trăn trở tìm tòi… trên trang viết của nhà văn Lê Lựu. Đề tài sẽ không đi vào toàn bộ tác phẩm của ông mà chỉ tập trung vào một tác phẩm thời kỳ đổi mới, đó là: Chuyện làng Cuội (1991)

* Phương pháp nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp lịch sử – xã hội; Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích.

* Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài được cấu trúc gồm hai chương chính.

Chương một: Lê lựu và tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Chương hai: Những nét đặc sắc của tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”

NỘI DUNG

Chương một

NHÀ VĂN LÊ LỰU VÀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1.1. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết

Có thể hiểu tiểu thuyết là: “hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [14, tr.387].

1.1.2. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

Cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết thời kỳ này là cảm hứng lãng mạn cách mạng. Gạt ra ngoài những vướng bận đời thường, những nỗi buồn cá nhân, vượt lên trên những hy sinh mất mát, văn xuôi giai đoạn này phản ánh khí thế hào hùng, những chiến công hiển hách của dân tộc, hướng con người về phía ánh sáng và tương lai.

1.1.3. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Văn học đã thực sự được cởi trói, cho nên chủ đề, đề tài được mở rộng, không bị gò ép, không bị giới hạn. Văn học đã tìm về với “con người đời thường”, “con người cá nhân” nhưng vẫn “mới”, vẫn không dẫm chân lên lối cũ mà đầy sáng tạo trong sự vận động không ngừng của cuộc sống mới. Văn học được trả lại “thiên chức” của mình trong việc phản ánh đời sống và điều ấy tạo nên giọng điệu đa thanh trong mỗi tác phẩm, trong từng tác giả.

1.2. Sự nghiệp sáng tác văn học của Lê Lựu

1.2.1. Vài nét về tác giả

Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, thôn Mẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu - Hưng Yên. Ông hiện nay đang đảm nhiệm chức Giám đốc của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân tại Hà Nội.

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác

Trước khi trở thành nhà tiểu thuyết có tên tuổi, Lê Lựu đã từng là một cây bút truyện ngắn. Là một nhà văn - chiến sỹ, trực tiếp đứng trong hàng ngũ của những anh lính cụ Hồ, nếm trải bao nhiêu đắng cay của cuộc chiến tranh, cho nên sáng tác của ông thường in đậm dấu ấn chiến tranh và chất chứa bao suy tư trăn trở về tình người, tình đời. Tác phẩm tiểu biểu của ông: Người cầm súng (1970) - giải nhì báo Văn nghệ; Mở rừng (1976); Thời xa vắng (1986) - giải A Hội nhà văn Việt Nam; Chuyện làng Cuội (1991); Sóng ở đáy sông (1994); Truyện ngắn Lê Lựu (2003).

Chương hai

NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC CỦA TIỂU THUYẾT

“CHUYỆN LÀNG CUỘI”

2.1. Tóm tắt tác phẩm “Chuyện làng Cuội”

Câu chuyện xoay quanh cuộc đời đầy đau khổ của bà Đất. Chuyện bắt đầu và kết thúc bằng cái chết của bà. Từ đấy, tác giả cho các nhân vật tái hiện lại dòng quá khứ thông qua những mối tình.

2.2. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca

2.2.1. Khái niệm cảm hứng - Cảm hứng bi kịch

Tác phẩm nghệ thuật chính là kết quả của cảm hứng. Điều này được Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương triển khai một cách cụ thể và đi đến kết luận: “Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó” [7, tr.208- 209].

Cuộc sống con người là thế giới muôn màu, chính vì thế, cảm hứng cũng mang nhiều dạng thức khác nhau. Có cảm hứng bi kịch, cảm hứng hài kịch, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng châm biếm...

2.2.2. Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới

Nói đến cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam “trước thời kỳ đổi mới” là nói đến một chặng đường dài mà tác phẩm đầu tiên chính là truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy... Cảm hứng bi kịch được tiếp nối trong nền văn học viết cho đến trước năm 1945, ở giai đoạn này bi kịch chính là mối xung đột giữa khát vọng chính đáng riêng tư của con người và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống.

Văn học giai đoạn từ 1945 đến trước thời kỳ đổi mới với nhiệm vụ động viên cổ vũ nên được viết hoàn toàn bởi chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng bi kịch hầu như không xuất hiện, không được khơi nguồn.

Sau năm 1986, văn học ở giai đoạn này không chỉ có bi kịch của sự mất mát mà các nhà văn thời kỳ đổi mới còn khắc hoạ tấn bi kịch lạc lõng của người lính sau cuộc chiến. Không chỉ dừng lại mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, văn học thời kỳ đổi mới còn khám phá bi kịch trong mối quan hệ giữa con người với con người ở những cung bậc khác nhau.

2.2.3. Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”

Nhà văn Lê Lựu đã khắc hoạ đậm nét những bi kịch xuất phát từ hoàn cảnh xã hội. Bà Đất - nhân vật chính của tiểu thuyết Chuyện làng Cuội rơi vào thảm kịch hoàn toàn do hoàn cảnh mang lại. Bằng cảm hứng bi kịch, Lê Lựu đã tinh tế khám phá tận cùng chiều sâu của nỗi đau mà người phụ nữ đáng thương ấy phải trải qua. Từng dòng chữ như thấm đẫm nước mắt của người cầm bút. Nhà văn đã đẩy bi kịch lên đến đỉnh điểm bằng cái chết đầy bất ngờ và “không bình thường” chút nào của người mẹ đáng thương.

2.3. Một cách nhìn mới về hiện thực nông thôn Việt Nam

Ở tác phẩm Chuyện làng Cuội, những sắc màu khác nhau của bức tranh làng quê Việt Nam được nhà văn phản ánh khá sắc nét. Lần theo cuộc đời của mỗi nhân vật, “sắc màu nông thôn” cứ hiển hiện một cách tự nhiên, ăm ắp sức sống. Hơn thế nữa, những tập tục, lề thói, phong vị, tập quán của làng quê Việt Nam được miêu tả một cách chân thực với một chất giọng đằm thắm, yêu thương hồn hậu.

2.4. Sự đổi mới trong kết cấu tác phẩm

2.4.1. Tình huống truyện

Khi đọc Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, chúng ta thấy nơm nớp lo sợ, hồi hộp cho số phận của nhân vật. Và dường như đã mở những trang sách đầu tiên thì không ai có thể gấp sách lại mà phải tiếp tục đọc, tiếp tục theo dõi diễn biến câu chuyện. Có được điều này là do tác giả đã khéo léo xây dựng những tình huống truyện bất ngờ, gay cấn.

2.4.2. Kết thúc truyện

Trong tác phẩm, ta nhận thấy nhà văn đã gây được sự bất ngờ cho người đọc trong cách kết thúc tác phẩm. Với kiểu kết này thực sự đã cho người đọc cảm giác yên lòng vì nhân vật mà mình yêu thích cuối cùng cũng về được “bến đỗ”.

2.5. Sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật

2.5.1. Giọng điệu hài hước, trào tiếu

Có thể nói giọng điệu hài hước là một trong những chất giọng được Lê Lựu thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình. Chính chất giọng đó đã giúp nhà văn đưa những yếu tố của văn học trào tiếu dân gian vào tác phẩm. Chính chất giọng hài hước tếu táo giúp cho tác phẩm của ông gần gũi hơn với bạn đọc. Ở đó, không còn chỗ cho giọng điệu sử thi, mà ngôn ngữ suồng sã đời thường được nhà văn sử dụng một cách tài tình, đậm nét, nhiều hơn trong các tác phẩm.

2.5.2. Giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương

Ngoài giọng hài hước hóm hỉnh tạo nên những trang viết “sắc ngọt”, “lém lỉnh”, Lê Lựu còn trần thuật với chất giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương. Chất giọng này thường là trần thuật những suy nghĩ của nhân vật và chính giọng điệu mang tính suy tư triết lý đã góp phần làm cho sức khái quát của tác phẩm sâu sắc hơn.

KẾT LUẬN

Có thể nhận thấy chính những thay đổi quan niệm về cách nhìn hiện thực, con người cũng như những nỗ lực trong sáng tạo nghệ thuật khiến tác phẩm của Lê Lựu thời kỳ đổi mới đã góp phần tích cực trong việc đổi mới nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Về mặt nội dung, ta thấy rằng, với cái nhìn sắc bén, Lê Lựu thực sự đã có những đóng góp to lớn cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chuyện làng Cuội đã đối thoại được với cuộc sống. Hơn thế nữa, những nhân vật như bà Đất, Lưu Minh Hiếu… vừa mang những nét riêng lại vừa mang tính khái quát sâu sắc đặc điểm của một lớp người thuộc “thời xa vắng”.

Về mặt nghệ thuật, chúng ta thấy rõ, dường như chuyển động đằng sau các sự kiện, sự việc là dòng tư tưởng, là những chiêm nghiệm mà ông muốn gửi gắm tới bạn đọc. Đặc biệt, những tư tưởng ấy được người cầm bút khéo léo đưa vào giữa các dòng, các chương, giữa các sự kiện, chi tiết ngồn ngộn của đời sống.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, H.

3. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, H.

4. Trần Đăng Khoa (1994), Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh Niên.

5. Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Mạnh (đồng chủ biên) (2002), Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 3), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

6. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H.

7. Lê Lựu (2003), Tạp văn, Nxb Văn hoá thông tin, H.

8. Lê Lựu (2006), Chuyện làng Cuội, Nxb Văn học, H.

9. Đỗ Hải Ninh (2006), “Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7- 2006.

10. Nguyễn Khắc Sính (2008), “Đi tìm phong cách chung của Văn học”, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 2-2008.

:

THI PHÁP LỜI THƠ ĐỐI ĐÁP TRONG CÁC LÀN ĐIỆU DÂN CA

VERIFICATION'S CHARATERIZATION PEOTRY PROFIT TO ANSWER IN FOLH-SONG MELODY

SVTH: Hoàng Chân Phương

Lớp 07CVH1, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: TS. Lê Đức Luận

Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Trong kho tàng ca dao người Việt, lối hát đối đáp luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình cảm của con người. Bên cạnh những lời thơ có nội dung ngọt ngào, sâu sắc thì thi pháp lời thơ đối đáp cũng rất phong phú và đa dạng. Chính vì vậy, mục đích chính của bài báo này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh của thi pháp lời thơ đối đáp như: thể thơ, cấu trúc ngữ nghĩa, ngôn ngữ, cách thức tổ chức và hình thức diễn xướng, nhân vật, biểu tượng. Tìm hiểu về những đặc trưng của thi pháp lời thơ đối đáp là một việc làm thiết thực. Qua đó, phần nào ta có thể hiểu được sự sáng tạo và cách bày tỏ tình cảm của nhân dân ta ngày trước. Với đề tài này, chúng tôi xin góp phần tìm hiểu một số cách tiếp cận về thi pháp lời thơ đối đáp nói riêng, dân ca nói chung.

ABSTRACT

In the treassure of Vietnamese folk-song, in the way people sang answer in tracditiol always play an important role in express people's emotion. Besides a sweet, profound poem's lyrics, versification's charateriation poetry profit to answer also are abudent and diversity. So the main aim of this reseach, we study deely in the fìeld of: style of poetry, semantic, construction, language, style of organization and oratio form, character, symbol. To fathom about versification's charactrization peotry profit to ansew its be expedience deed. Here, we can somewhat understand how to express creativity and emotional days of our people. With this theme, we can fild out some approaches to implement reply poetry profit versification in particalar, folk-song in general.

1. Đặt vấn đề

Hát đối đáp thể hiện một cách chân thực và sinh động mọi mặt của đời sống lao động cũng như tư tưởng, tình cảm của người dân, đặc biệt là tình yêu đôi lứa. Nó làm cho các bài trao đổi kiến thức về tự nhiên và xã hội tăng thêm vẻ nhẹ nhàng, tươi vui. Giúp cho chúng ta rèn luyện khả năng về ứng khẩu và nhạy hơn về cảm hứng. Hát đối đáp cũng là một hình thức để tạo ra sự hài hoà giữa những tâm hồn cá nhân và tình cảm của tập thể, qua một cách thức thể hiện thật trữ tình.

Lối hát đối đáp sinh ra từ cuộc sống lao động và nghệ thuật tập thể, từ yêu cầu trao đổi tình cảm giữa cá nhân và xã hội. Nó khơi dòng, lựa lọc và truyền đi nguồn thơ của dân gian. Bởi vậy, hát đối đáp trở thành nhịp cầu, nối liền ca dao dân ca với thơ trữ tình cổ điển và hiện đại.

Việc nghiên cứu và tìm hiểu về hát đối đáp trong các làn điệu dân ca là một việc làm thiết thực, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc của dân tộc ta.

2. Sơ lược về thi pháp văn học dân gian và lời thơ đối đáp

2.1. Khái niệm về thi pháp học

"Thi pháp học là khoa học về cách thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học. Nó muốn bao quát không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ mà còn là các khía cạnh khác nhau của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian"

- V.Vinogradov -

2.2. Vài nét về thi pháp văn học dân gian

Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm hình thức nghệ thuật sáng tác diễn xướng dân gian của tập thể nhân dân vừa có đặc điểm ngôn từ văn học, vừa có đặc điểm văn bản thực hành giao tiếp, là loại hình văn học phản ánh bằng ngôn ngữ giới hạn trong những khuôn mẫu định sẵn mang phong cách dân tộc, phong cách khu vực và địa phương rõ rệt, được thể hiện trong một hệ thống thể tài riêng biệt, đặc thù [16, tr12].

2.3. Sơ lược vài nét về mối quan hệ "ca dao" và "dân ca"

Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng.

Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian.

2.4. Vài nét về hát đối đáp

Hát đối đáp là một hình thức sinh hoạt giao duyên tập thể hoặc các cặp hát lẻ. Hát lẻ là hát bất cứ khi nào và không quy định cách thức hát. Hát tập thể là phải tuân theo quy trình hát, cách thức hát cụ thể tuỳ theo từng loại dân ca, các cuộc hát tập thể thường chia hai phe nam nữ, đối đáp theo từng chặng hát.

3. Một số đặc điểm về nội dung và cách phân loại lời thơ đối đáp

3.1. Nguồn gốc và quá trình phát triển của hát đối đáp

Cũng như hầu hết các thể loại khác nhau của hình thức ca hát dân gian, các bài hát đối đáp ra đời ngay từ thời kì phát triển rất sớm của cộng đồng người Việt, gắn liền với sự ra đời của âm nhạc và nhảy múa. Và cũng như các thể loại chính của văn nghệ dân gian, trong những giai đoạn đầu mới phát triển, các bài hát đã ra đời và tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ giữa hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất của người Việt.

3.2. Nội dung hát đối đáp và cách phân loại

Dựa vào thái độ của đối thoại, ta có thể chia nội dung của lời thơ đối đáp thành: Lời kêu gọi; Khuyên bảo nhau; Hỏi, đố nhau; Than thở, thổ lộ, mong ước có nhau; Tự giới thiệu cho nhau, trách móc, diễu cợt nhau.

3.3. Tiến trình một cuộc hát đối đáp

Tiến trình một cuộc hát đối đáp của dân gian nói chung có những nét giống nhau như hát Phường Vải ở Nghệ Tĩnh, hát trống quân ở Thanh Hoá, hò khoan ở Quảng Nam - Đà Nẵng, hò khoan xứ Huế... đều được diễn ra theo ba bước: hát chào-mời, hát vào cuộc, hát hẹn-hát tiễn.

4. Đặc trưng thi pháp lời thơ đối đáp

4.1. Thể thơ

4.1.1. Thể thơ lục bát

Thể thơ lục bát là thể thơ hay được dùng nhất trong các cuộc hát đối đáp nam nữ. Nhiều cuộc hát đối đáp nam nữ nhờ vậy có thể kéo dài thâu đêm suốt sáng mà người hát cũng như người nghe không cảm thấy chán. Trong những cuộc hát đó, nguồn cảm hứng vô tận của người hát không bị gián đoạn.

Thể thơ lục bát bao gồm những cặp câu với hai dòng (vế), dòng trên có sáu âm tiết, dòng dưới có tám âm tiết.

a) Lục bát chỉnh thể

Ở lục bát chỉnh thể, số âm tiết của mỗi dòng không thay đổi, vị trí gieo vần luôn cố định: âm tiết cuối của dòng lục vần với âm tiết sáu của dòng bát, âm tiết cuối cùng của dòng bát này bắt đầu với âm tiết cuối cùng của dòng lục của cặp bát tiếp theo, rồi cứ thế tiếp tục..., chỉ có vần bằng.

Nhịp phổ biến của lục bát chỉnh thể là 2/2/2 và 2/2/2/2, đôi khi nhịp thay đổi theo yêu cầu diễn tả cảm xúc - tâm lí (3/3 và 4/4 hoặc 3/3 và 2/2/4).

b) Lục bát biến thể

Lục bát biến thể là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt theo kiểu dòng trên sáu âm tiết, dòng dưới tám âm tiết mà luôn có sự co giản nhất định về âm tiết, trong đó khuôn hình về vần vẫn được giữ, còn số âm tiết trong mọi dòng thơ có thể thay đổi.

Như vậy, lục bát là thể thơ được sử dụng phổ biến trong lời thơ đối đáp. Với những âm điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển, thể thơ lục bát đã góp phần làm cho lời thơ đối đáp thật tình tứ, ý nhị.

4.1.2. Song thất lục bát

Thể thơ này được sử dụng trong những lời đối đáp tuy không phổ biến như thể thơ lục bát, nhưng cũng là thể thơ bắt nguồn từ các làn điệu dân ca.

Nhờ sự luân phiên cứ hai câu bảy âm tiết lạ đến hai câu sáu và tám âm tiết, luân phiên giữa vần trắc (âm tiết cuối câu bảy trên vần với âm tiết năm của câu bảy dưới) với vần bằng (âm tiết bảy câu bảy dưới vần với âm tiết cuối của câu lục tiếp theo, rồi lại vần với âm tiết sáu của câu bát, âm tiết cuối của câu bát này lại bắt vần bằng với âm tiết năm của câu bảy tiếp liền sau đó, cứ thế...), thể song thất lục bát tạo nên một sự biến đổi mới mẻ so với thể lục bát.

a) Song thất lục bát chỉnh thể

Thể thơ song thất lục bát hoàn chỉnh được sử dụng trong lời đối đáp rất thích hợp để diễn tả những tâm trạng đầy khúc mắc. Vần trắc và tiết tấu theo nhịp 3/4 những câu bảy thể hiện rất thành công những tình cảm không trọn vẹn, những nỗi đau khổ uất ức...

Nhịp điệu uyển chuyển và sự xen kẻ của vần lưng và vần chân, vần bằng và vần trắc làm cho các câu thơ quấn quýt lấy nhau, câu nọ kéo theo câu kia một cách liên tục.

b) Song thất lục bát biến thể

Thể thơ song thất lục bát biến thể, với những câu thơ dài ngắn quá khổ có tác dụng nêu lên những khó khăn trùng điệp, muốn giãi bày, tâm sự...

Thể song thất lục bát biến thể là sự kéo dài số âm tiết của mỗi câu, bởi thế vị trí gieo vần của các câu cũng có thể biến đổi theo

4.1.3. Thể vãn

Trong lời thơ đối đáp, thể vãn không được dùng phổ biến như thể lục bát hay song thất lục bát. Tuy nhiên, khi hát đối đáp, đôi khi ta vẫn bắt gặp những lời thơ được thể hiện theo thể thơ này.

Trong hát đối đáp, những nhân vật trữ tình có thể bộc bạch với nhau tất cả, có nhiều lúc phải kể lễ sự tình, những nỗi ấm ức trong lòng cũng phải nói ra để cùng nhau chia sẽ, câu thơ lục bát kéo dài sẽ làm hạn chế chức năng của nó. Vì thế, hát đối đáp đôi khi lời thơ phải sử dụng thể lục bát kết hợp với thể vãn để bài ca có giọng kể lễ, dẫn dắt.

4.2. Cấu trúc ngữ nghĩa

Lời thơ trong hát đối đáp được hình thành do sự kết hợp bởi lời thơ và tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy. Trong sinh hoạt hát đối đáp, lời thơ được cấu trúc theo hai hình thức là lời đơn và lời đôi

4.2.1. Cấu trúc lời đơn

Đây là dạng cấu trúc chỉ có một vế đơn. Trong hát đối đáp, cấu trúc lời đơn được thể hiện chủ yếu ở các kiểu: cấu trúc đối ứng, cấu trúc đối sánh, cấu trúc song hành.

4.2.2. Cấu trúc lời đôi

Đây là kiểu cấu trúc chủ đạo trong hát đối đáp. Trong lời thơ đối đáp, cấu trúc lời đôi được thể hiện ở hai kiểu là: cấu trúc đối giãi (cấu trúc hai vế tương hợp, cấu trúc hai vế đối lập) và cấu trúc đố giãi (cấu trúc tương hợp và cấu trúc không tương hợp).

4.3. Ngôn ngữ

Lối đáp đáp sinh ra từ cuộc sống lao động và nghệ thuật tập thể, từ yêu cầu trao đổi tình cảm giữa cá nhân, xã hội trong những điều kiện lịch sử và văn hoá nhất định. Nó khơi dòng, lựa lọc và truyền đi nguồn thơ của dân gian. Nó là một nhịp cầu nối liền ca dao dân ca với thơ trữ tình cổ điển và hiện đại.

4.3.1. Ngôn ngữ đối đáp gắn bó mật thiết với ngôn ngữ các làn điệu dân ca

4.3.2. Ảnh hưởng của ngôn ngữ đối đáp với lời thơ văn học viết

4.4. Cách thức tổ chức và hình thức diễn xướng

Cách thức tổ chức: ít nhất phải có hai người hát. Có thể hát theo hình thức hát nghĩa và hát ở bất cứ trường hợp nào, nhưng khi đã tổ chức theo hình thức hát cuộc thì phải chuẩn bị trước và hát theo đúng thứ tự từng chặng.

Hình thức diễn xướng: Sáng tác trong ca dao dân ca thường có tính ngẫu hứng nên trong hát đối đáp khâu sáng tác và khâu diễn xướng không tách rời nhau.

4.5. Nhân vật, biểu tượng

Nhân vật: chủ yếu là nhân vật trữ tình, tâm trạng. Thường xưng hô với nhau bằng các cặp đại từ nhân xưng như mình- ta, thiếp- chàng, loan- phụng...

Biểu tượng: các loại cây như trúc, mai, ...; Các loại hoa như hoa đào, hoa sen, hoa nhài... được xuất hiện với tần số cao.

Biểu tượng thiên nhiên được nhắc đến nhiều nhất. Thiên nhiên có khi được biểu hiện dưới dạng thời gian, có khi dưới dạng không gian, có khi là cây cỏ hay đồ vật...

5. Kết luận

Với những lời thơ ngọt ngào, trữ tình nhưng không kém phần chân chất, mộc mạc kết hợp với những làn điệu dân ca, hát đối đáp đã trở thành một nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Hát đối đáp đã bộc lộ tâm hồn con người bằng âm thanh, nhịp điệu và lời nói, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên.

Hát đối đáp có một cách thức thể hiện nhẹ nhàng, thật kín đáo và tế nhị. Qua việc tìm hiểu về lời thơ đối đáp, phần nào ta có thể hiểu được sự sáng tạo và cách bày tỏ tình cảm của nhân dân ta ngày trước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Văn Bổn (1984), Văn nghệ dân gian Quảng Nam Đà Nẵng - Tập 1, Nxb Sở VHTT - Quảng Nam Đà Nẵng.

[2] Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn Nghệ T.P Hồ Chí Minh.

[3] Cao Huy Đỉnh (1978), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội.

[4] Bảo Định Giang (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb T.P Hồ Chí Minh.

[5] Vũ Thị Thu Hương (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn Hoá Thông Tin.

[6] Đinh Gia Khánh (2006), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo Dục.

[7] Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

[8] Nguyễn Xuân Kính (1995), Kho tàng ca dao người Việt - Tập 4, Nxb Văn Hoá Thông Tin.

[9] Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại Học Huế.

Tác giả: Hoàng Chân Phương

Lớp 07CVH1 – Khoa Ngữ Văn – ĐHSP

Điện thoại: 01685970939

Email: maiphuongphuong87@gmail.com

:

CHẤT TRIẾT LÝ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẢI

(QUA XUNG ĐỘT, MÙA LẠC, HÃY ĐI XA HƠN NỮAVÀ NGƯỜI TRỞ VỀ)

QUALITY PHILOSOPHY IN PROSE, NGUYEN KHAI (THROUGH CONFLICT, SEASONAL, GO FURTHER AND RETURN)

SVTH: Phạm Trọng Đạt

Lớp 07CVH1, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

SVTH: Đỗ Thị Nhung

Lớp 07CVH2, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: PGS.TS Nguyễn Phong Nam

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Những sáng tác của Nguyễn Khải thường mang khuynh hướng chính luận – thời sự, với những câu văn đầy màu sắc triết lý. Mục đích của bài báo là nghiên cứu các đặc điểm triết lý trong văn xuôi của ông. Cụ thể là triết lý về cuộc đời; triết lý về con người và triết lý về tôn giáo. Những đặc điểm triết lý này đã cho chúng ta thấy một phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Khải: một nhà văn hiện thực tỉnh táo với tính chính luận sắc sảo và một giọng điệu đầy tính tranh biện, triết lý. Thêm vào đó nó còn cho thấy quá trình phát triển của một tài năng từ chặng đường đầu của sự nghiệp đến sự trưởng thành chín chắn của một cây bút hiện thực cách mạng sắc sảo.

ABSTRACT

Nguyen Khai compositions often tend to the review, the time the sentence with colorful philosophy. purposes of this paper is to study the characteristics of philosophy in his prose. particular philosophy of life, human philosophy and philosophy of religion. characteristics of this philosophy has showed us a unique art style of the Nguyen Khai: a writer with the sober reality of a talk tone is sharp and highly arguments, philosophical. adding that it also shows the development of a top talent from the stage to maturity, maturity of a true revolutionary pen sharp.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nguyễn Khải là một cây bút năng nổ nhạy bén với các vấn đề xã hội. Tác phẩm của ông thuờng mang màu sắc triết lý về con người và đạo đức nhân sinh. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp ta hiểu hơn về năng lực tư duy cũng như bổ sung kiến thức về một tác gia văn học lớn. Đồng thời nó giúp chúng ta sống tốt hơn, vững tin hơn trong cuộc sống đầy khó khăn và biến động hiện nay.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải. cụ thể là triết lý về cuộc đời; triết lý về con người; triết lý về tôn giáo.

Phạm vi nghiên cứu trong Xung đột; Mùa lạc; Hãy đi xa hơn nữa và Người trở về.

3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hệ thống, thống kê; Phân tích tổng hợp; So sánh, đối chiếu.

4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Khải là một tác giả nổi tiếng của Văn học Việt Nam hiện đại cho nên có rất nhiều công trình nghiên cứu về ông nói chung và nghiên cứu về tác phẩm và những giá trị của nó nói riêng. Mỗi người khám phá ở mỗi khía cạnh khác nhau tuy nhiên ở phạm vi đề tài này thì chưa có một công trình nào thực sự trở thành hệ thống hoàn chỉnh cả.

Trước hết là những nhận định, đánh giá về Nguyễn Khải. Đại diện cho khuynh hướng này là Vũ Quần Phương, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Phan Cự Đệ, Đào Thủy Nguyên…nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá Nguyễn Khải là cây bút xông xáo, năng nổ, nhạy bén.

Tiếp đến là những bài nghiên cứu về giá trị các tác phẩm của Nguyễn Khải cùng với chất triết lý trong văn xuôi ông. Đại diện như Đỗ Kim Hồi, Vũ Tuấn Anh, Hà Minh Đức, Tuyết Nga, Lại Nguyên Ân…

Riêng chỉ có Lê Thành Vinh đã có một công trình nghiên cứu mang tên “Triết luận về tôn giáo trong tiểu thuyết Nguyễn Khải” nhưng với đề tài này, tác giả chỉ khai thác chủ yếu ở mặt triết luận trong phạm vi những tiểu thuyết, nhất là những tiểu thuyết sau năm 1975. Còn điều mà chúng tôi đề cập đến là những vấn đề triết lý trong phạm vi một tác phẩm cụ thể.

5. Bố cục công trình nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phần Danh mục tài liệu tham khảo; phần Nội dung được chia thành hai chương chính:

Chương 1: Nguyễn Khải – con người và sự nghiệp

Chương 2: Đặc điểm chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI - CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP

1.1 Con người và những chặng đường văn

1.1.1 Vài nét về tiểu sử

Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải. Ông sinh ngày 03 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội, mất ngày 15 tháng 01 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh.

1.1.2 Những chặng đường văn Nguyễn Khải

Từ năm 1965 trở về trước: tác phẩm của ông là những khúc tráng ca lãng mạn của công cuộc xây dựng chế độ mới – Xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm tiêu biểu như Xung đột, tập truyện Mùa lạc, Tầm nhìn xa…

Từ năm 1965 – 1975: ông chủ yếu viết về người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tác phẩm như Họ sống và chiến đấu, Đường trong mây, Ra đảo…

Từ sau năm 1975, bên cạnh những sáng tác viết về nơi ông đã đi qua, Nguyễn Khải còn viết về những miền đất mới: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người. đặc biệt là các trang viết về Hà Nội như Một người Hà Nội, Người của ngày xưa.

1.2 Quan niệm của Nguyễn Khải về văn học

1.2.1 Về sáng tác văn học

Viết văn với ông không chỉ là để khẳng định mình mà quan trọng hơn là để đền ơn cách mạng. Theo ông, tinh thần của nhà văn hướng vào cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của xã hội là điều đáng trân trọng.

1.2.2 Về nhà văn

Nguyễn Khải quan niệm nhà văn phải trở thành người bạn đáng tin cậy của độc giả. Muốn thế họ phải có tài và có tâm. Ông cũng đòi hỏi nhà văn phải có một tinh thần dũng cảm dám nói ra những mặt sai trái của con người và xã hội.

1.3 Đặc sắc nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Khải

1.3.1 Nguyễn Khải – nhà văn hiện thực tỉnh táo

Nguyễn Khải luôn dùng ngòi bút hiện thực, giàu tính chiến đấu của mình để phê phán, vạch ra chỗ đúng, chỗ sai của con người. Ông là một nhà văn chịu khó đi và tìm tòi.

1.3.2 Tính chính luận sắc sảo

Vấn đề chính luận trong tác phẩm của Nguyễn Khải nhìn chung đều mang ý nghĩa nhân văn cụ thể. Sức hấp dẫn trong sáng tác của ông là tính vấn đề.

1.3.3 Tính năng động, thời sự

Nguyễn Khải có mặt ở những nơi chiến sự xảy ra ác liệt nhất, ông luôn theo kịp bước đi của cách mạng.

1.3.4 Giọng tranh biện triết lý

Trong các sáng tác, Nguyễn Khải thường thông qua các cuộc đối thoại của nhân vật để trình bày các vấn đề của đời sống. tất những vấn đề nhân sinh thế sự được các nhân vật quan tâm, bàn luận trên mọi khía cạnh tạo nên triết lý sâu sắc.

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CHẤT TRIẾT LÝ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẢI

2.1 Cơ sở của chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải

2.1.1 Nguyên nhân chủ quan

Nguyễn Khải có một gia đình bất hạnh cộng với điều kiện sống vô cùng khó khăn nên từ nhỏ phải sống rất cơ cực nên đã hình thành trong ông một ý chí sống để khẳng định mình. Thêm nữa trước khi trở thành một nhà văn ông từng làm tuyên huấn và viết báo, điều đó đã giúp ông có sự nhạy cảm và hiểu biết cần thiết trước cuộc đời.

2.1.2 Nguyên nhân khách quan

Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống Pháp đem lại cho ông cơ hội để khẳng định mình. Năm 1975 ông chuyển vào Nam sinh sống và làm việc, chính môi trường mới đã cho ông cái nhìn sâu sắc hơn với những quan niệm đầy đủ hơn về cuộc sống, con người.

2.2 Nội dung triết lý trong Xung đột, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa và Người trở về

2.2.1 Triết lý về cuộc đời

Với Nguyễn Khải, triết lý về cuộc đời được hiểu là những chiêm nghiệm, những đúc kết, lý giải về cuộc đời. Nhiều sáng tác của ông là những bài học, triết lý về lối sống. Rõ ràng Nguyễn Khải đã khái quát lên một triết lý về lối sống: cuộc đời con người chẳng thể quẩn quanh nơi chật hẹp mà còn phải biết bước ra ngoài xã hội để khẳng định mình và phải có cống hiến cho cuộc đời.

Bên cạnh đó, Nguyễn Khải còn triết lý về con người với các khả năng thích ứng và lựa chọn. Trong vô vàn sự lựa chọn cho cuộc sống của con người, Nguyễn Khải đã đặt vấn đề phải có sự lựa chọn sao cho phù hợp với hoàn cảnh của mình

Tác phẩm của Nguyễn Khải đã đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc, nêu lên một quan niệm, một cách nhìn mới về nông thôn hiện nay: phải có một thái độ đúng, cách nhìn đúng thì mới hiểu hết được cuộc sống mới ở nông thôn.

2.2.2 Triết lý về con người

Ông đã triết lý về sức mạnh ẩn sâu trong mỗi con người để mỗi khi có thử thách nó lại trỗi dậy. Nguyễn Khải đặt ra yêu cầu là con người cần phải có một sức mạnh để vượt qua những ranh giới riêng của bản thân mình. Suy cho cùng thì cuộc đời con người là một quá trình nỗ lực vươn lên không ngừng để bước qua những ranh giới đó.

Nguyễn Khải đã tập trung giải quyết vấn đề về cách nhìn nhận con người mới trong công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa. Ông đã nhìn thấy sự thay đổi không chỉ về vật chất mà còn có những thay đổi trong nhận thức, tư duy của con người khi tiếp nhận ánh sáng của cuộc sống mới. Ông đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải có một sự sáng suốt trong việc đánh giá con người, tránh việc chỉ căn cứ vào bề ngoài mà có những đánh giá sai lầm không đáng có.

2.2.3 Triết lý về tôn giáo

Tôn giáo với Nguyễn Khải đó là việc tìm vào thế giới tâm linh, để nơi đó ông được an ủi và tìm thấy cho mình niềm tin vào cuộc sống. Trong Xung đột, Nguyễn Khải đã đề cập đến niềm tin tôn giáo, tin vào một ngày kia cuộc đời của họ sẽ đổi khác, tin vào họ sẽ được lên thiên đàng để hầu hạ Chúa. Ông đã phê phán và lên án tôn giáo là một kẻ thù của cách mạng. Ngoài ra ông còn cho chúng ta thấy sự chi phối vô cùng mạnh mẽ của tôn giáo đến toàn bộ đời sống của người dân xứ Hỗ.

Trong tôn giáo Nguyễn Khải còn nhìn thấy sự vận động tất yếu từ chỗ phần “đạo” được chú trọng chuyển sang phần “đời” được quan tâm hơn. Người dân xứ Hỗ không còn coi tôn giáo như là một thế lực duy nhất ảnh hưởng đến đời sống của họ nữa.

KẾT LUẬN

Tác phẩm của ông luôn luôn là một kho tri thức mà chúng ta có thể học hỏi ở đấy rất nhiều điều. Đọc văn Nguyễn Khải, phần chính không phải là đọc truyện mà đọc vấn đề, không phải sống cùng cuộc đời nhân vật mà sống cùng với suy nghĩ của tác giả. Ông là nhà văn của lý tưởng, của triết lý nhân sinh. Tuy nhiên một điều không thể phủ nhận là càng trong những giai đoạn về sau chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải càng sâu sắc hơn. Mặc dù vậy có cái trước rồi mới có cái sau và chất triết lý trong văn xuôi Nguyễn Khải trước năm 1975, đặc biệt là trong bốn tác phẩm trên đã tạo nên cho ông một phong cách nghệ thuật độc đáo.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Thành Duy (1961), “Mùa lạc – một thành công mới của Nguyễn Khải”, Tạp chí nghiên cứu Văn học số 6, Trang 1- 8

2 Phan Cự Đệ (chủ biên, 2007), Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung, NXB Giáo dục.

3 Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên,2000), Văn học Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục.

4 Nguyễn Đăng Mạnh (1979), Nhà văn tư tưởng và phong cách, NXB Tác phẩm mới Hội nhà văn.

5 Vương Trí Nhàn (1996), “Vài nét về các sáng tác của Nguyễn Khải trong những năm gần đây”, Tạp chí Văn học số 2, Tr 8 – 11.

6 Tuyết Nga (1999), “Nguyễn Khải với bút kí- tạp văn”, Tạp chí Văn học số 11, Trang 72 – 77.

7 Tuyết Nga (2004), Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải, NXB Hội nhà văn.

8 Đào Thủy Nguyên (2001), “Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu phân tích”, Tạp chí Văn học số 11,Trang 53 – 63.

9 Nguyễn Văn Long (chủ biên, 2007), Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tập 2, NXB Đại học sư phạm.

10 Lê Thành Vinh (2009), “Triết luận về tôn giáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Tác giả

Phạm Trọng Đạt lớp 07CVH1 Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, số điện thoại liên lạc: 0982415493.

Đỗ Thị Nhung lớp 07CVH2 Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, số điện thoại liên lạc: 0983913649

:


TỤC THỜ ĐỨC THÁNH ĐÔNG HẢI ĐẠI VƯƠNG NGUYỄN PHỤC

LÀNG PHÚ XÁ, QUẢNG XƯƠNG, THANH HÓA

THE CUSTOM ĐONG HAI ĐAI VUONG THE HOLY MONK NGUYEN PHUC

IN PHU XA VILLAGE, QUANG XUONG, THANH HOA

SVTH: Nguyễn Văn Thuận

Lớp 06CVHH, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: TS. nguyễn Xuân Hương

Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Tục thờ đã có lịch sử hơn năm thế kỷ tồn tại và phát triển ở làng Phú Xá. Nó chứa đựng một giá trị to lớn cả về vật chất và tinh thần như giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần, tâm linh, giá trị đạo đức, giá trị du lịch. Nghi lễ gắn liền với lễ hội cầu ngư, cầu mùa, cầu bình an của người dân làng biển. Tục thờ này gắn liền với những truyền thuyết, sự tích, sắc phong, nghi lễ. Tuy nhiên thì chưa có một văn bản thành văn nào ghi chép về tục thờ này, từ trước tới nay việc lưu truyền nó chỉ bằng truyền miệng và thói quen trong sinh hoạt hàng ngày. Bài viết này góp phần giúp nhân dân nơi đây có một văn bản thành văn, khoa học nơi lưu giữ các giá trị của tục thờ đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy và lưu truyền tục thờ này tới hậu thế, qua đó góp phần chứng minh sự đa dạng của văn hóa biển nói chung, tục thờ này nói riêng

ABSTRACT

The custom of worshipping in Phu Xa village has existed for over 5 centuries. It contains the great material and spiritual values such as historical, cultural, spiritual, moral and tourism values. The custom goes with the festival of fishing pray, and safe pray of people living near sea. The custom goes with legends, myths, rituals. However, it has just been passed by tradition by oral and habits of daily activities of people. Therefore, the custom hasn’t been recorded in any document. The purpose of my research is to help the local people have a scientific document which saving the values of this custom as well as reserving and developing it to future generations. And Ialso want to prove the varieties of sea culture in general and the custom in particular.

MỞ ĐẦU

Tục thờ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục là nét nổi bật, nét đặc sắc của văn hóa biển Việt Nam nói chung làng Phú Xá nói riêng. Tục thờ có tính chất thiêng liêng và có sự ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tín ngưỡng, tinh thần của người dân làng biển Phú Xá. Từ bao đời nay, những truyền thuyết, sự tích, nghi lễ liên quan đến tục thờ Thánh Nguyễn Phục ở làng Phú Xá lúc hiện hữu, lúc cất kín trong cõi u minh và lung linh hiển hách trong đầu óc người dân nơi đây. Họ truyền đời nhau bằng miệng, bằng thói quen trong sinh hoạt hàng ngày mà chưa có một tài liệu văn bản nào hay một công trình nghiên cứu nào về nó được lưu truyền trong dân gian hay chính quyền địa phương. Tục thờ và ngôi làng đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn cho sự phát triển khi mà làng nằm trong vùng quy hoạch phát triển du lịch sinh thái biển.

Trước khả năng của sự biến đổi cũng như mong muốn được nghiên cứu về: “Tục thờ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục làng Phú Xá, Quảng Xương, Thanh Hóa” nên tôi đã đi sâu khảo sát và tìm hiểu nó.

NỘI DUNG

1. Khái quát chung về làng Phú Xá

1.1. Làng Phú Xá từ góc nhìn địa lý

Làng Phú Xá bao gồm thôn 7, thôn 8 và thôn 9 thuộc xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa. Ngôi làng cách khu du lịch Sầm Sơn 6 km về hướng Nam. Khu làng giáp với địa giới hành chính của xã Quảng Hùng về phía Bắc, phía Nam giáp xã Quảng Hải, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp sông Rào.(sông nhà Lê).

Khu làng có diện tích khoảng 0,7 km2, dân số khoảng 3.500 người. Với 1,2 km bờ biển, nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng, nhiều loại có trữ lượng lớn và giá trị kinh tế cao cho phép nhân dân trong làng phát triển mạnh ngành khai thách hải sản biển. Với biển đẹp, độ dốc thấp, sóng nhẹ, quanh năm mát mẽ, hiền hòa lại giáp với hai khu du lịch Sầm Sơn và Hùng Sơn cho phép làng đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với du lịch sinh thái.

1.2. Làng Phú Xá từ góc nhìn lịch sử

Làng ban đầu có tên là Lương Xá sau đổi thành Phú Xá thuộc tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, phủ Thiên Gia, trấn Thanh Hóa. Đầu thế kỷ 20 làng đổi tên thành Thủ Phú, nhưng tên Phú Xá vẫn được nhân dân gọi song song với tên Thủ Phú. Năm 1990 làng chia thành 3 thôn là thôn 7, thôn 8 và thôn 9 thuộc xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa.

Làng có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước như: Đời vua Lê Trang Tông (1533 - 1548), khi đi đánh họ Mạc đã ghé qua nơi này, Quang Trung khi ông đem quân ra Bắc đánh quân xâm lược nhà Thanh cũng về nơi đây để tuyển mộ quân lính, nhiều trai tráng của làng đã theo ông đi đánh giặc Thanh xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ làng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước, cho dân tộc. Đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, dân quân tự vệ của làng đã phối hợp với bồ đội địa phương đóng ở núi Trường Lệ đã bắn rơi một máy bay và nhiều tàu chiến của địch. Sau này, vào năm 1998 nhân dân trong làng và nhân dân cả xã Quảng Đại đã vinh dự nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vủ trang nhân dân trong kháng chiến chống mỹ.

1.3. Làng Phú Xá từ góc nhìn kinh tế, xã hội

Hoạt động kinh tế chủ đạo của cả làng là kinh tế biển, cả làng có 260 phương tiện đánh bắt trên biển đa phần là có công xuất nhỏ sử dung các loại lưới và giả nên chủ yếu là đánh bắt cá, tôm, ruốc, sứa ở gần bờ. “Năm 2009 tổng sản lượng khai thác ước đạt 1.100 tấn cá tôm, sản lượng sứa tưới đạt khoảng 18.000 tấn”. Bên cạnh kinh tế biển làng còn có kinh tế nông nghiệp và buôn bán.

Những năm gần đây kinh tế của làng phát triển một cách nhanh chóng. Biểu hiện là số hộ giàu và khá tăng lên số hộ nghèo giảm mạnh, làng không còn hộ đói. Hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc khá phát triển.

Cùng với sự phát triển của kinh tế thì các vấn đề xã hội cũng được quan tâm hơn trước. Dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội ngày một tăng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

2. Tục thờ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục ở làng Phú Xá

2.1. Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục và quá trình thiêng hóa

Nguyễn Phục người xã Đoàn Tùng, huyện Gia Lộc, xứ Hải Dương. Ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ, khoa thi năm Quý Dậu hiệu Thái Hòa thứ 11 (1453) và được bổ làm chức quan Hàn lâm viện, tham nghị chính sự viện. Ông là người văn vỏ song toàn lại có tài ăn nói nên đã nhiều lần được cử đi sứ ở Trung Quốc. Ông từng kim qua nhiều chức vụ khác nhau như quan Giám thí, quan thừa tuyên tham nghị Thanh Hoa, quan đốc lương… Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cuối đời vì không may cho số phận nên đã bị vua Lê Thánh Tông xử tội chết vì trể hẹn quân cơ. Về sau vua cản thấy hối hận vì chuyện này nên đã phong cho ông là Đại vương biển Đông hải, rồi ban chiếu cho nhân dân nhiều nơi phụng thờ.

Quá trình thiêng hóa Nguyễn Phục lên thành bậc Thánh thần gắn liền với những truyền thuyết, thần tích và sắc phong. Thần tích về ông được các nhà nho và triều đình phong kiến ghi chép lại rất nhiều như sách “Thần tích Việt Nam”có viết: Sau khi vua chiến thắng Chiêm Thành trở về, trên đường gặp sóng to gió lớn nên không đi được. Một đêm Vua thao thức tai nghe gió gào, sóng dậy trằn trọc không sao ngủ được. Vua sực nhớ lại thuyền lương trễ kỳ hạn là do sóng lớn gây ra, trong lòng hối hận, thương tiếc đốc lương quan bị thác oan. Trong lúc mơ màng Vua nhìn thấy ông đứng trước giường ngự tâu rằng:

Kẻ hạ thần cảm ơn tri ngộ của bệ hạ nên dẫu thác, linh hồn vẫn theo ra chiến trận. Nay nhờ hồng phúc quốc gia, bệ hạ dẹp xong Chiêm hầu, hạ thần lại xin theo hộ giá khải hoàn. Vua Lê chợt tỉnh trông ra vầng Đông đã hửng sáng. Biển lặng sóng yên, đại quân vượt biển trở về in ổn. Vua Lê Thánh Tông truy phong Đốc lương quan Nguyễn Phục tước Đại vương biển Đông Hải”.

Đền thờ ông ở làng Phú Xá đã 10 lần nhận sắc phong của các vua triều Lê, Nguyễn. Ngày nay làng còn giữ lại được 2 đạo sắc. Do thời gian và sự khắc nghiệt của thiên nhiên nên một đạo sắc đã bị rác và mờ nét chữ, bản còn lại do vua Duy Tân năm thứ 3 ban tặng.

2.2. Khảo tả đền thờ Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục

Vào khoảng cuối thời Lê Sơ ngôi đền được xây dựng ở khu đất đầu làng và xây dựng bằng tre nứa, đền nhỏ nhưng không gian khá rộng rải. Sau được xây dụng lại bằng gạch và gỗ rất kiên cố.

Cuối thế kỷ XVIII đền được di rời về vị trí trung tâm của làng và tồn tại ở đó cho tới nay. Lúc này xây bằng gạch, đá và gỗ rất lớn. Trong cách mạng văn hóa, ngày 10/3/1961 ngôi làng bị phá bỏ tuy nhiên tục thờ vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân của làng. Năm 1992 nhân dân đã đóng góp công sức, tiền bạc để xây dựng lại ngôi đền này. Năm 1999 ngôi đền vinh dự đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Năm 2008 tỉnh ủy Thanh Hóa đã cho phép tu sữa lại gian chính tẩm của ngôi đền.

Ngôi đền được xây dựng thành hai nhà biệt lập ngăn cách bằng một cái sân nhỏ, theo lối kiến trúc hình chữ Đinh. Gồm một ngôi tiền đường nằm ngang chiều dài 8,30 mét rộng 5,70 mét, kết cấu vì kèo theo lối giá chuông kẻ, chuyền bẩy, 2 hiên trước sau, ít có trang trí hoa văn, tường xây bằng gạch, vì kèo, xà nhà bằng gỗ. Nhà chính tẩm nằm dọc chiều dài 7m, chiều rộng 4,5m. Bên trong có hai hàng cột bằng cột bê tông, rui mè và vì kèo làm bằng gỗ. Lợp ngói âm dương, trên mái ngói có đắp lưỡng long chầu mặt nguyệt.

Ngôi chính tẩm có treo một số bức đại tự, hoành phi như: Quang Lưu Đức, Tối Linh Từ, Thượng Đẳng Tối Linh. Bàn hương án xếp kiểu tam quan và quay về hướng Nam. Từ ngoài vào là bàn hội đồng, nơi thờ 3 tiền hiền là đức tổ họ Cao, họ Phan, họ Thừa, trên bàn có bát hương sứ cổ gia lươn, bộ lư hương bằng đồng. Một bộ đài nhỏ gồm 3 cái bằng gỗ được sơn son thiếp vàng. Sau cùng là long ngai làm bằng gỗ, hai bên có 2 giá binh khí. Bàn thờ Thánh ở giữa có đặt tượng Thánh Nguyễn Phục màu vàng, đầu đội mủ, mặc áo quan màu đỏ. Bàn cuối cùng gọi là hậu cung, có đặt lư hương bằng đồng, hai hạc chầu hai bên. Tiếp đến là “Long ngai giao ỷ thần vị”, trên long ngai là áo quan, mủ quan màu vàng. Trong long ngai là hòn sắc lớn, trong hòn sắc trước kia có 10 đạo sắc hiện nay chỉ còn lại 2 đạo sắc.

2.3. Những ngày lễ chính trong năm

Đền thờ Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục ở làng Phú Xá được nhân dân quanh năm hương khói phụng thờ với niềm tin và ước vọng thánh Đông Hải sẽ chở che, bảo vệ và phù trợ cho nhân dân về cuộc sống bình an, no đủ của cả làng biển. Các ngày lễ chính trong năm như: Xuân Thu nhị kỳ tế lễ, các ngày kỳ nhật như ngày sóc vọng, ngày tết đoan ngọ, ngày chạp làng 7/12, ngày giỗ Thánh 16/4 âm lịch.

Ngày giỗ Thánh 16/4 âm lịch là ngày giỗ lớn nhất của làng. Xưa kia nó kéo dài 3 ngày và có phần hội với nhiều trò chơi, trò diễn dân gian, vào ngày này làng thường là mổ Bò, mổ Trâu. Ngày nay thì đã giản đi rất nhiều, chỉ diễn ra trong một ngày và không còn phần hội nữa, lễ vật cũng giảm đi đáng kể.

Bàn hương án đặt ở trước sân đền, gồm 3 bàn là tam bảo Phật ở trên cùng, tam bảo Thánh ở giữa, tam bảo quan ở dưới. Có rước kiệu và bát hương ở bàn Thánh nơi hậu cung ra bên ngoài.

Nghi lễ bắt đầu bằng lễ rước kiệu xuống chùa Đồng Bông, đây được xem là lễ thỉnh đức Phật. Sau đó là lễ thỉnh cầu Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục và các quan văn vỏ theo hầu về dự lễ. Sau lễ thỉnh là văn cúng Thánh trong đó có đoạn: “Cẩn dâng lễ bạc chi nghi hương đăng quả phẩm kỵ nhật lễ khánh hội cổ truyền. Cảm chiêu cáo vu tối linh ngài Đông Hải Đại Vương hiệu trạch Hoàng Hạp Quảng Nhuận trắc vậy dược bảo Trung Vưng thượng thượng đẳng thần cùng văn võ linh quan vậy tiền ta kính thỉnh”.

Tiếp đó là các nghi lễ cầu ngư, cầu nông cầu danh, cầu buôn bán. Trong đó Lễ cầu ngư là lễ chính và thu hut sự quan tâm chú ý cũng như sự thành tâm cúng bái của toàn thể ngư dân trong làng. Nghi lễ cuối cùng cua buổi lễ là lễ tống thuyền.

2.4. Ý nghĩa, giá trị tục thờ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục

Ý nghĩa lịch sử: Thông qua tiểu sử nhân vật Nguyễn Phục và tục thờ của ông chúng ta có thể hiểu thêm một phần nào đó về người thực của ông, về công lao mà ông đóng góp cho đất nước. Đồng thời những tư liệu về Nguyễn Phục còn là những cứ liệu hùng hồn phản ánh một thời kỳ đấu tranh oanh liệt của dân tộc ta để bảo vệ biên cương bờ cỏi của đất nước và mở đầu cho quá trình mở cỏi về phương Nam của dân tộc ta. Qua đó phản ánh thêm về những chính sách luật pháp của triều đình phong kiến thời Hồng Đức là rất nghiêm ngặt.

Giá trị văn hóa tinh thần, tâm linh: Từ trong sâu thẳm tiềm thức của nhân dân Nguyễn Phục là vị Thánh, vị thành hoàng làng ngài là biểu tượng về quyền lực và sức mạnh tinh thần chi phối cả đời sống tinh thần lẫn vật chất của họ. Tín ngưỡng thờ Nguyễn Phục vẫn là nhu cầu tâm linh không thể thiếu đối với người dân nơi đây. Trong tâm thức họ vẫn tin rằng với sức mạnh và sự thiêng liêng cao cả Đức Thánh vẫn dõi theo, giám sát mọi hành động, việc làm của mỗi người và cả cộng đồng làng biển. Phù hộ, chở che cho họ trong cuộc sống đời thường và hướng họ tới những điều tốt đẹp, cao cả nhân văn.

Nghi lễ của tục thờ gắn liền với lễ hội cầu ngư, cầu mùa của người dân làng ven biển Phú Xá. Nó đã phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân về một cuộc sống bình yên, no đủ, biển lặng trời yên, ra khơi vào lộng được thuận buồn xuôi gió, đánh bắt được nhiều cá tôm. Nó còn phản ánh cách ứng xử dung hòa của con người nơi đây với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường tâm linh, giữa Thần, Người và Biển. Đây còn là dịp nhân dân trong làng được nghỉ ngơi thư giản tạo lập thế cân bằng trong đời sống tinh thần sau một năm làm ăn vất vả trên biển. Nghi lễ còn là để mang lại niền vui, sự hương phấn cho mọi thành viên trong cộng đồng làng biển để bước vào một chu kỳ mới.

Giá trị du lịch: Cần phải khai thác, làm giàu, phát huy các giá trị của di tích và tục thờ này đúng như tinh thần của hội nghị trung ương V khóa VIII đã đề ra. Với lợi thế là giáp với hai khu du lịch Sầm Sơn và Hùng Sơn, cùng với nó là việc mở rộng kinh doanh, khai thác du lịch vào địa phận của làng. Theo đó ngôi đền sẽ là điểm thăm quan của khu khách mỗi khi đến nơi đây. Ngôi đền là một không gian thiêng liêng, tĩnh lặng khác xa với không khí ồn ào, náo nhiệt ở bên ngoài, lại được bao phủ bởi một màu xanh của cây cối càng làm cho ngôi đền thêm phàn cổ kính. Người thực hành tín ngưỡng hay du khách ai cũng muốn ghé lại để cho tâm hồn được thanh thản, bình yên.

Một số khuyến nghị: Thứ nhất, hiện tại gian tiền đường của ngôi đền là nhà văn hóa của đơn vị thôn 8. Đó là một sự đối nghịch giữa một bên là không gian linh thiêng, nơi thờ vị anh hùng, người có công với đất nước với nhân dân với một bên là nơi vui chơi giải trí, hội họp công việc của cán bộ nhân dân thôn 8. Thiết nghĩ rằng để trã lại cho ngôi đền một không gian tĩnh lặng, linh thiêng như vốn có của nó.

Thứ hai, Nên khôi phục một số trò chơi, trò diễn dân gian trong ngày giỗ Thánh 16 thánh 4 để phục vụ nhân dân và du khách.

Thứ ba, Chính quyền địa phương cần đẩy mạnh việc vận động các hộ dân sống khu vực phía Tây của ngôi đền để xúc tiến việc đổi đất, mở rộng không gian cho ngôi đền.

Thứ tư, Chính quyền địa phương và bản thân làng phải có biện pháp tuyên truyền, giáo dục truyền thống quê hương tới các thế hệ hôm nay và mai sau để tục thờ được trường tồn mãi mãi với thời gian và làng biển này.

KẾT LUẬN

Do điều kiện tự nhiên, môi trường khai thác gắn liền với biển cả, phương thức sản xuất lại lạc hậu, nhỏ bé nên đã ảnh hưởng, tác động tới đời sống tinh thần, tín ngưỡng, tâm linh của cư dân vùng biển này.

Tục thờ và nghi lễ Đức Thánh Nguyễn Phục ở làng Phú Xá gắn liền với lễ hội cầu ngư, cầu mùa, cầu bình an của cư dân làng biển nơi đây. Tục thờ này còn phản ánh cách ứng xử dung hòa của con người nơi đây với môi trường tự nhiên, môi trường tâm linh. Tục thờ còn mạng giá trị nhân văn sâu sắc, giá trị đạo đức cao cả. Tục thờ là sự suy tôn người anh hùng dân tộc, người có công với đất nước lên bậc Thánh thần, để rồi phản ánh sức mạnh cố kết cộng đồng, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trở về với cội nguồn dân tộc của nhân dân.

Trong điều kiện lịch sử mới của ngôi làng và tục thờ cần phát huy giá trị của nó trong việc phát triển du lịch. Bên canh đó cũng phải lưu ý đến việc bảo tồn những giá trị văn hóa cổ truyền, đặc sắc của tục thờ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban quản lý di tích đền thờ Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục , “Văn cúng Thánh”.

2. Nguyễn Xuân Hương (2009), “Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam Đà Nẵng”,Nxb Từ điển bách khoa và Viện văn hóa.

3. Ninh Viết Giao (2001), “Văn hóa làng biển xứ Nghệ”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật.

4. Ngô Sĩ Liên (2004), “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nxb Văn hóa thông tin.

4. Lê Xuân Quang (1996) “Thờ thần ở Việt Nam” tập 1, Nxb Hải Phòng.

6. Sở văn hóa thông tin – bảo tảng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (1997), “Lý lịch di tích lịch sử văn hóa đền thờ Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục thôn Phú Xá, xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”, Bản đánh máy.

7. Ngô Đức Thịnh (2000), “Văn hóa dân gian làng ven biển”, Nxb KHXH Hà Nội.

8. Hoàng Minh Tường (2005), “Tục thờ thần Độc Cước ở làng Núi, Sầm Sơm, Thanh Hóa”, Nxb Văn hóa dân tộc.

:

THI PHÁP CHÂN KHÔNG TRONG “TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY” CỦA KAWABATA YASUNARI

VACUUM PROSODY USED IN “PALM-OF THE HAND STORIES”, A WORK OF KAWABATA YASUNARI’S

SVTH: Trương Thị Hồng Cúc

Lớp 06CVH1, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: ThS. Nguyễn Phương Khánh

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Đến với văn chương của Kawabata và gặp gỡ gương mặt ẩn giấu nhiều điều thú vị - truyện ngắn trong lòng bàn tay – “tác phẩm của chân không” thể hiện hết sức độc đáo, tinh tế và ẩn chứa tâm hồn Nhật Bản ở những khía cạnh thế giới của những chiếc gương soi, thời gian của những khoảnh khắc, không gian “vỏ ốc”, thế giới nhân vật và cái kết lửng. Một phát hiện khá lí thú là sự gặp gỡ giữa Kawabata và Hemingway trong nguyên lí sáng tạo. Nói cách khác, truyện ngắn trong lòng bàn tay cũng chính là một tảng băng trôi, một phẩn nổi, bảy phần chìm, chứa đựng sức công phá mạnh mẽ…

ABSTRACT

Reading Kawabata’s proses, especially Palm-of-the-Hand Stories – “a masterpiece of understatement”, which is originally and subtly presented with the essence of the Japanese mind, in five aspects the world of mirrors, the time of moments, “Sea shell” spaces, the world of characters and the open endings. Another interesting finding is the similarities in the theory of creation between Kawabata and Hemingway. In other words, Palm-of-the-Hand Stories is a floating iceberg, with only one-eighth of it being above water, and hence holding enormous power…

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Nhắc đến khuôn mặt văn chương Nhật, không thể không nói đến Kawabata Yasunari và truyện ngắn trong lòng bàn tay. Cuộc hành hương vào thế giới truyện ngắn trong lòng bàn tay của văn hào Kawabata là thêm một lần nữa tìm về với những nét truyền thống cội rễ trong nền văn chương Phù Tang, về đất và người xứ sở Mặt trời mọc. Chính bởi vậy, người viết chọn đề tài: “Thi pháp chân không trong truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari” để nghiên cứu với hi vọng đi vào sâu hơn thế giới Phù Tang bằng chiếc gương văn chương.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Kawabata sinh ra từ xứ sở Mặt trời mọc, là nhà văn đồng thời là sứ giả - bằng ngòi bút văn chương của mình ông đã kết nối những con người, những mảnh hồn, những nghĩ suy…khiến cho văn học trở nên gần gụi, được yêu thích và khám phá một cách mãnh liệt. Bởi thế, Kawabata Yasunari và những đứa con tinh thần của ông luôn có sức hút mạnh mẽ không chỉ với độc giả, với người yêu văn mà còn đối với cả giới phê bình văn học uy tín.

* Về Kawabata Yasunari và “Truyện ngắn trong lòng bàn tay”

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu là một trong số những người dành rất nhiều tâm huyết, tình yêu và bút lực cho văn học xứ sở Phù Tang, đặc biệt cho văn hào Kawabata. Nhật Chiêu từng nhận định: “Thực chất của thẩm mĩ chiếc gương soi là hồn thơ khao khát vươn tới điều chưa biết trong Kawabata đã vận dụng thần tình mĩ cảm phương Đông, mĩ cảm Nhật Bản và cả mĩ cảm hiện đại, phản ánh tất cả trong một giọt sương sáng tạo đầy bản lĩnh”[30, tr.92].

GS.Lưu Đức Trung là một trong số những nhà nghiên cứu có công lớn trong giới thiệu văn học Nhật, đặc biệt về văn hào Kawabata đến độc giả Việt. Theo ông, phong cách nghệ thuật của Kawabata được thể hiện ở “cái chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu đó phải chăng Kawabata đã kế thừa được từ trong dòng văn học “nữ tính” trong thời đại Heian (794 – 1192), từ tác phẩm Genji Monogatari của Murasaki Sibiku (978 – 1044) đầy chất bi cảm”[43, tr.47].

Trong chuyên luận “Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata”, TS.Đào Thị Thu Hằng khẳng định “vẻ đẹp, sự độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của Kawabata” và “những đóng góp to lớn từ cách kể của Kawabata đối với kĩ thuật tự sự của văn chương nhân loại, đặc biệt là cách kể hiện đại của thế kỉ XX”[8, tr.7].

Có một số ít bài nghiên cứu dành riêng về truyện ngắn trong lòng bàn tay, đã bước đầu mở vào cánh cửa khó khăn nhưng thú vị của Kawabata Yasunari.

Peter Metevelis trong bài viết “Dịch những truyện “trong lòng bàn tay” của Kawabata” (dịch giả Đinh Quang Trung) bằng những dẫn chứng sinh động, ông khẳng định: “Những truyện trong lòng bàn tay khá phong phú về hình ảnh, tính cách, sự tinh tế, vẻ đẹp, tính hài hước và vẻ duyên dáng” và nhấn mạnh một số điểm vừa nêu dễ dàng bị phá vỡ bởi “bản dịch lỏng lẻo”[27, tr.166].

Trần Thu Hằng với truyện ngắn trong lòng bàn tay – cái nhìn thẩm mỹ trong suốt khẳng định: “Truyện ngắn trong lòng bàn tay vừa chứa đựng hồn thơ ông, vừa thể hiện tài năng của ông một cách tập trung và cô đúc”[47].

Cũng trên góc độ thi pháp học, nhưng “Đặc điểm thi pháp truyện trong lòng bàn tay của Yasunari Kawabata” được Hoàng Long nhìn theo phương diện hình ảnh trung tâm là “người lữ khách như kẻ hành hương thân phận, kiếm tìm cái đẹp và hình ảnh người nữ là hiện thân cho cái đẹp mà người lữ khách muôn đời theo dấu”[1, tr.1079].

Tóm lại, có thể thấy tình hình nghiên cứu về Kawabata Yasunari ở Việt Nam như một bức tranh tương đối nhiều màu sắc với những mảng sáng tối, đậm nhạt khác nhau.

* Về “Thi pháp chân không

Phan Nhật Chiêu, nhà nghiên cứu về văn hóa - văn học Nhật gạo cội, là người “hiểu văn học Nhật kì lạ” đã dùng khái niệm “thi pháp chân không” trong rất nhiều công trình, bài viết khảo cứu về văn học Nhật.

Trong bài viết “Kawabata, người cứu rỗi cái đẹp” đăng lần đầu trên tạp chí Văn, năm 1991, Nhật Chiêu đã công bố cách gọi thi pháp của Kawabata là “thi pháp chân không”: Qua tiếng thầm thì của trái tim hoặc gương mặt người hấp hối…Kawabata để cho phần không nói chìm sâu vào trong ta trong một thi pháp có thể gọi là “thi pháp của chân không”[4, tr159].

Với Truyện ngắn trong lòng bàn tay – cái nhìn thẩm mỹ trong suốt, Trần Thu Hằng khẳng định: “Thi pháp chân không (chữ của Nhật Chiêu) trong các truyện ngắn trong lòng bàn tay cũng trở thành đặc trưng nghệ thuật quan trọng. Những khoảnh khắc thoáng qua mà như không trong cuộc đời, những khoảng trống chiếm trong bức tranh thủy mặc chấm phá qua ngòi bút của Kawabata có sức ám ảnh lớn”[47].

Với những công trình mang tính gợi mở cộng hưởng với niềm yêu thích văn học Nhật, người viết mong muốn đào sâu hơn vào thế giới Kawabata Yasunari ở chính mảng thi pháp, mà cụ thể là “Thi pháp chân không” (chữ dùng của Nhật Chiêu) được thể hiện qua những tác phẩm “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” với đề tài: “Thi pháp chân không trong truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari” để thêm một lần khám phá vùng đất văn chương Nhật.

3. Ý nghĩa của đề tài

Là sự khơi gợi tầng lá phủ để góp thêm chút ánh sáng soi rọi phần hồn cốt của Kawabata!

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện của thi pháp chân không trong những tác phẩm “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” của Kawabata Yasunari.

Phạm vi nghiên cứu: Truyện ngắn trong lòng bàn tay in trong “Yasunari Kawabata tuyển tập tác phẩm” (gồm 46 tác phẩm).

5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau đây: thống kê – phân loại, miêu tả, phân tích – tổng hợp, đối chiếu – so sánh.

6. Cấu trúc đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục (5 bảng phụ lục), đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Kawabata và “Truyện ngắn trong lòng bàn tay”

Chương 2: Truyện ngắn trong lòng bàn tay – “tác phẩm của chân không”

Chương 3: Truyện ngắn trong lòng bàn tay – gương mặt đẹp trong dòng chảy văn chương

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KAWABATA VÀ “TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY”

1.1. Kawabata – người nghệ sĩ và những khoảnh khắc thi ca

Ngược dòng thời gian trở về với vùng đất Nhật, tại Osaka, năm 1899 một con người đã được sinh ra với định mệnh cô đơn, với nỗi đau thương tràn lấp nhưng đã để lại cho đời những bản tình ca về cái đẹp ngân lên trong những trang văn thấm đẫm buồn thương và tinh tế, nhạy cảm và mong manh. Ông là người nghệ sĩ mang tâm hồn Nhật Bản – Kawabata Yasunari.

1.2. Kawabata và “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” – cuộc gặp gỡ đầy duyên nợ

1.2.1. Hồn thơ của một thời tuổi trẻ

“Tuổi trẻ trong đời người nhà văn thường dành cho thơ ca, còn tôi, thay vì thơ ca, tôi viết những tác phẩm nhỏ gọi là truyện ngắn trong lòng bàn tay. Hồn thơ của những ngày trẻ tuổi của tôi sống sót trong những câu chuyện ấy…” - Lời tự bạch của Kawabata Yasunari đã nói lên nhiều điều rằng chính những tác phẩm truyện trong lòng bàn tay vừa là nơi bộc bạch vừa là chốn nương náu tâm hồn ông…

1.2.2. “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” của Kawabata

Truyện trong lòng bàn tay – cái tên đầy ẩn ý thú vị, với cách gọi tên đầy hình tượng, bất giác ta hình dung hai bàn tay nhỏ xinh đang úp vào nhau để tạo ra một khoảng không nhỏ bé nhưng dường như có khả năng dung chứa trong lòng cả thế giới vạn vật; nó là lát cắt của khoảnh khắc, là khoảng ngưng đọng, là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa…Có thể nó rất xa vời, nhưng có khi chỉ cần xòe lòng bàn tay ra, bạn đã bắt gặp vô tận thế giới…

CHƯƠNG 2: TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY – “TÁC PHẨM CỦA CHÂN KHÔNG”

2.1. Thế giới của những chiếc gương soi

Cảnh vật, con người và tình yêu hiện lên trong suốt, mờ ảo qua những chiếc gương soi. Thế giới ấy thực mà như không thực, mọi cái Đẹp biến ảo như tan vào hư không...Chính sự giao thoa giữa thực và ảo của hai thế giới cùng tồn tại và soi chiếu lẫn nhau đã mở ra cả một khoảng không vô tận.

2.2. Thời gian của những khoảnh khắc

Khoảnh khắc là “khoảng thời gian hết sức ngắn”[21, tr.779] nhưng lại có khả năng mở ra những rung động vô biên, náo động thăng trầm. Nhà nghệ sĩ Kawabata Yasunari tỏ ra hết sức tài tình trong việc nắm bắt và tái hiện những khoảnh khắc độc sáng.

2.3. Không gian “vỏ ốc” nhưng chứa đầy sóng gió

Trong không gian của căn nhà, của giấc mơ, thậm chí ở khu nghĩa địa, những nhân vật của Kawabata được sống với lòng mình, được bộc lộ hết những nỗi niềm riêng tây về cuộc đời, về thân phận và tình yêu…Giống như hình ảnh giọt sương, chiếc lá, vò sò…tất cả đều bé nhỏ nhưng chứa đựng chiều sâu của đại dương, bước đi của thời gian…Truyện ngắn trong lòng bàn tay là một thế giới cô đúc đặc biệt, như một biển xanh tự giấu mình trong vỏ ốc muôn màu...

2.4. Thế giới nhân vật trong “Truyện ngắn trong lòng bàn tay

Vẻ đẹp trinh bạch, thuần khiết, những tiếng lòng khát khao cái Đẹp cứ mãi ám ảnh trên từng trang Truyện ngắn trong lòng bàn tay. Đó là thế giới của những người lữ khách đi tìm cái Đẹp, là những người thiếu nữ…không rõ lai lịch, không có quá khứ…

2.5. Vĩ thanh vang ngân sau những cái kết lửng

Kết thúc mở trong Truyện ngắn trong lòng bàn tay là lối kết thúc đầy ám ảnh, mở ra biên độ tối đa tạo ra những khoảng trống để người đọc tự lấp đầy những khoảng trống ấy theo cách của riêng mình…

CHƯƠNG 3: TRUYỆN NGẮN TRONG LÒNG BÀN TAY – GƯƠNG MẶT ĐẸP TRONG DÒNG CHẢY VĂN CHƯƠNG

3.1. Hoài vọng vẻ đẹp truyền thống và nguyên lí mĩ học dân tộc Nhật

Niềm bi cảm từ một nghìn năm trước trong tác phẩm Genji của nữ sĩ Murasaki lại được truyền xuống ngòi bút của Kawabata cộng với những vẻ đẹp truyền thống độc đáo của dân tộc Nhật: tà áo kimono dịu dàng, với làn hương trà đạo, với bóng hình geisha…đã theo vào những trang văn của Kawabata để làm nên một nỗi hoài vọng đầy ám ảnh…

3.2. “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” hay là “Tảng băng trôi”

Trong cuộc đời có nhiều sự tình cờ, đặc biệt sự gặp gỡ tình cờ trong văn chương là sự đồng điệu trong tâm hồn của những người nghệ sĩ. Trong nguyên lí sáng tạo của mình, Kawabata với thi pháp chân không đã bắt gặp Hemingway với thủ pháp “tảng băng trôi”.

Kawabata Yasunari, với sự lao động khổ hạnh trên những cánh đồng chữ nghĩa để cho ra những tác phẩm Đẹp và Buồn đậm chất Á Đông, đậm chất Thiền với bút pháp hiện đại – thi pháp chân không để góp phần xây nên chiếc “cầu nối giữa hai bờ Đông – Tây”.

KẾT LUẬN

Tất cả những gì hiện hữu trong cuộc đời này đều được chiếc gương mang tên chân không soi rọi, vĩnh chiếu và dung chứa...Bởi thế không là ngẫu nhiên họa sĩ người Hà Lan – Van Gốc phát hiện ra một điều hết sức tinh tế: “với người Nhật, bậc hiền giả chỉ nên để tâm vào việc suy nghĩ về từng ngọn cỏ”. Ngọn cỏ mang trong mình sự kết tinh tinh chất của đất trời, nhìn ngắm ngọn cỏ ta sẽ nghiệm thấy nhiều điều. Cũng như thế, truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari phải chăng cũng là ngọn cỏ bé nhỏ giấu mình dưới đám cây to, là giọt sương vương mình trên lá, là hạt cát giấu mình trong vỏ sò…tất cả ẩn chứa cả một vũ trụ vô thủy vô chung…

Truyện ngắn trong lòng bàn tay với những chiếc gương soi chiếu vạn vật, con người, tình yêu; với những khoảnh khắc độc sáng, với những cái kết lửng mơ hồ mở ra không gian vô tận…đó là thi pháp chân không Kawabata Yasunari dùng để soi chiếu tất cả những gì hiện hữu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. SÁCH

[1] Nhật Chiêu (2003), Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb Giáo dục.

[2] Nhật Chiêu (2009), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nxb Giáo dục.

[3] Đào Thị Thu Hằng (2007), Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nxb Giáo dục.

[4] Mitsuyoshi Numano (2009), “Lịch sử và Đặc trưng của Văn học Nhật Bản – Từ mononoaware đến kawaii”, Hội thảo văn học Nhật Bản.

[5] Tủ sách Nobel văn học (2005), Yasunari Kawabata tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động.

B. TẠP CHÍ

[6] Lưu Đức Trung (1999), “Thi pháp tiểu thuyết của Yasunari Kawabata nhà văn lớn Nhật Bản”, Tạp chí Văn học, (9/1999), tr.45- 48.

[7] V.V. Ôtrinnicốp (1996), “Những quan niệm thẩm mỹ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật”, Tạp chí Văn học, (5/1996), tr.60- 63.

CÁC THÔNG TIN KHÁC

Họ và tên: Trương Thị Hồng Cúc

Địa chỉ: K01B/21 Lê Trọng Tấn, Tổ 11, Tân Hòa, An Khê, Thanh Khê, Đà Nẵng

Số điện thoại liên hệ: 01684.991.532

Email: chipchip308@yahoo.com

Chữ kí của tác giả:

:

NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU TRONG “CHUYỆN LÀNG CUỘI”

RENOVATIONS OF LE LUU’S NOVEL FEATURES IN

“CUOI VILLAGE’S TALE”

SVTH: Vũ Xuân Triệu

Lớp 06CVH2, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phong Nam

Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Bằng những số phận riêng, cuộc đời riêng, qua tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”, Lê Lựu đã soi chiếu hiện thực dưới nhiều chiều kích khác nhau. Những trang tiểu thuyết của ông vì thế, ánh hào quang dường như nhạt dần và có khi mất hẳn. Thay vào đó là chất đời tư của mỗi số phận, mỗi cuộc đời với những lấm lem đời thường nhất. Và đấy chính là một trong những điều mới mẻ mà Lê Lựu đóng góp cho nền tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới.

ABSTRACT

By its own destinies, personal lives in “Cuoi village’s tale”, Le Luu has reflected the reality in many different dimensions. The halo of his novel’s pages, therefore, seems to gradually fade and sometimes clear away. Instead, that is the privacy of its own destinies, personal lives with spattering of daily life. And that is one of the new things that Le Luu contributes to Vietnam novels in the innovation era.

MỞ ĐẦU

* Lý do chọn đề tài

Kể từ sau năm 1975, Văn học Việt Nam đứng trước nhu cầu mở rộng hơn nữa trong việc phản ánh mọi mặt cuộc sống đa dạng và phức tạp, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn nhạt dần và được thay thế bởi cảm hứng đời tư thế sự. Các vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, về cái tôi… đã trở thành chủ đề nổi bật khiến cho văn học càng đổi mới mạnh mẽ. Người ta hình dung lại con người, thay đổi cách miêu tả, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu mới.

Trước thực tế đầy biến động của lịch sử, tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội” của Lê Lựu ra đời như một bức tranh sinh động, khắc hoạ chân thực những tháng ngày đất nước trong thời kỳ đổi mới. Tìm hiểu tác phẩm kể trên, ta sẽ hiểu thêm về thể loại tiểu thuyết của một thời kỳ văn học sôi động. Đồng thời qua đó hiểu được những đóng góp của nhà văn cho nền tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này.

* Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về Lê Lựu và các sáng tác của ông nói chung, tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội” nói riêng có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Những bài viết ấy hầu hết được tác giả tuyển chọn đưa vào cuốn Tạp văn của mình một cách khá đầy đủ. Tiêu biểu có một số bài viết như: “Lê lựu” – trích Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa; “Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Hải Ninh …

* Phạm vi – đối tượng nghiên cứu

Dựa vào đặc điểm thể loại tiểu thuyết và các tác phẩm, trong đề tài này chúng tôi cố gắng chỉ ra những chuyển biến về quan niệm con người, những trăn trở tìm tòi… trên trang viết của nhà văn Lê Lựu. Đề tài sẽ không đi vào toàn bộ tác phẩm của ông mà chỉ tập trung vào một tác phẩm thời kỳ đổi mới, đó là: Chuyện làng Cuội (1991)

* Phương pháp nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp lịch sử – xã hội; Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích.

* Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài được cấu trúc gồm hai chương chính.

Chương một: Lê lựu và tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Chương hai: Những nét đặc sắc của tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”

NỘI DUNG

Chương một

NHÀ VĂN LÊ LỰU VÀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1.1. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết

Có thể hiểu tiểu thuyết là: “hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [14, tr.387].

1.1.2. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

Cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết thời kỳ này là cảm hứng lãng mạn cách mạng. Gạt ra ngoài những vướng bận đời thường, những nỗi buồn cá nhân, vượt lên trên những hy sinh mất mát, văn xuôi giai đoạn này phản ánh khí thế hào hùng, những chiến công hiển hách của dân tộc, hướng con người về phía ánh sáng và tương lai.

1.1.3. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Văn học đã thực sự được cởi trói, cho nên chủ đề, đề tài được mở rộng, không bị gò ép, không bị giới hạn. Văn học đã tìm về với “con người đời thường”, “con người cá nhân” nhưng vẫn “mới”, vẫn không dẫm chân lên lối cũ mà đầy sáng tạo trong sự vận động không ngừng của cuộc sống mới. Văn học được trả lại “thiên chức” của mình trong việc phản ánh đời sống và điều ấy tạo nên giọng điệu đa thanh trong mỗi tác phẩm, trong từng tác giả.

1.2. Sự nghiệp sáng tác văn học của Lê Lựu

1.2.1. Vài nét về tác giả

Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, thôn Mẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu - Hưng Yên. Ông hiện nay đang đảm nhiệm chức Giám đốc của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân tại Hà Nội.

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác

Trước khi trở thành nhà tiểu thuyết có tên tuổi, Lê Lựu đã từng là một cây bút truyện ngắn. Là một nhà văn - chiến sỹ, trực tiếp đứng trong hàng ngũ của những anh lính cụ Hồ, nếm trải bao nhiêu đắng cay của cuộc chiến tranh, cho nên sáng tác của ông thường in đậm dấu ấn chiến tranh và chất chứa bao suy tư trăn trở về tình người, tình đời. Tác phẩm tiểu biểu của ông: Người cầm súng (1970) - giải nhì báo Văn nghệ; Mở rừng (1976); Thời xa vắng (1986) - giải A Hội nhà văn Việt Nam; Chuyện làng Cuội (1991); Sóng ở đáy sông (1994); Truyện ngắn Lê Lựu (2003).

Chương hai

NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC CỦA TIỂU THUYẾT

“CHUYỆN LÀNG CUỘI”

2.1. Tóm tắt tác phẩm “Chuyện làng Cuội”

Câu chuyện xoay quanh cuộc đời đầy đau khổ của bà Đất. Chuyện bắt đầu và kết thúc bằng cái chết của bà. Từ đấy, tác giả cho các nhân vật tái hiện lại dòng quá khứ thông qua những mối tình.

2.2. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca

2.2.1. Khái niệm cảm hứng - Cảm hứng bi kịch

Tác phẩm nghệ thuật chính là kết quả của cảm hứng. Điều này được Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương triển khai một cách cụ thể và đi đến kết luận: “Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó” [7, tr.208- 209].

Cuộc sống con người là thế giới muôn màu, chính vì thế, cảm hứng cũng mang nhiều dạng thức khác nhau. Có cảm hứng bi kịch, cảm hứng hài kịch, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng châm biếm...

2.2.2. Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới

Nói đến cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam “trước thời kỳ đổi mới” là nói đến một chặng đường dài mà tác phẩm đầu tiên chính là truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy... Cảm hứng bi kịch được tiếp nối trong nền văn học viết cho đến trước năm 1945, ở giai đoạn này bi kịch chính là mối xung đột giữa khát vọng chính đáng riêng tư của con người và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống.

Văn học giai đoạn từ 1945 đến trước thời kỳ đổi mới với nhiệm vụ động viên cổ vũ nên được viết hoàn toàn bởi chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng bi kịch hầu như không xuất hiện, không được khơi nguồn.

Sau năm 1986, văn học ở giai đoạn này không chỉ có bi kịch của sự mất mát mà các nhà văn thời kỳ đổi mới còn khắc hoạ tấn bi kịch lạc lõng của người lính sau cuộc chiến. Không chỉ dừng lại mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, văn học thời kỳ đổi mới còn khám phá bi kịch trong mối quan hệ giữa con người với con người ở những cung bậc khác nhau.

2.2.3. Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội”

Nhà văn Lê Lựu đã khắc hoạ đậm nét những bi kịch xuất phát từ hoàn cảnh xã hội. Bà Đất - nhân vật chính của tiểu thuyết Chuyện làng Cuội rơi vào thảm kịch hoàn toàn do hoàn cảnh mang lại. Bằng cảm hứng bi kịch, Lê Lựu đã tinh tế khám phá tận cùng chiều sâu của nỗi đau mà người phụ nữ đáng thương ấy phải trải qua. Từng dòng chữ như thấm đẫm nước mắt của người cầm bút. Nhà văn đã đẩy bi kịch lên đến đỉnh điểm bằng cái chết đầy bất ngờ và “không bình thường” chút nào của người mẹ đáng thương.

2.3. Một cách nhìn mới về hiện thực nông thôn Việt Nam

Ở tác phẩm Chuyện làng Cuội, những sắc màu khác nhau của bức tranh làng quê Việt Nam được nhà văn phản ánh khá sắc nét. Lần theo cuộc đời của mỗi nhân vật, “sắc màu nông thôn” cứ hiển hiện một cách tự nhiên, ăm ắp sức sống. Hơn thế nữa, những tập tục, lề thói, phong vị, tập quán của làng quê Việt Nam được miêu tả một cách chân thực với một chất giọng đằm thắm, yêu thương hồn hậu.

2.4. Sự đổi mới trong kết cấu tác phẩm

2.4.1. Tình huống truyện

Khi đọc Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, chúng ta thấy nơm nớp lo sợ, hồi hộp cho số phận của nhân vật. Và dường như đã mở những trang sách đầu tiên thì không ai có thể gấp sách lại mà phải tiếp tục đọc, tiếp tục theo dõi diễn biến câu chuyện. Có được điều này là do tác giả đã khéo léo xây dựng những tình huống truyện bất ngờ, gay cấn.

2.4.2. Kết thúc truyện

Trong tác phẩm, ta nhận thấy nhà văn đã gây được sự bất ngờ cho người đọc trong cách kết thúc tác phẩm. Với kiểu kết này thực sự đã cho người đọc cảm giác yên lòng vì nhân vật mà mình yêu thích cuối cùng cũng về được “bến đỗ”.

2.5. Sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật

2.5.1. Giọng điệu hài hước, trào tiếu

Có thể nói giọng điệu hài hước là một trong những chất giọng được Lê Lựu thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình. Chính chất giọng đó đã giúp nhà văn đưa những yếu tố của văn học trào tiếu dân gian vào tác phẩm. Chính chất giọng hài hước tếu táo giúp cho tác phẩm của ông gần gũi hơn với bạn đọc. Ở đó, không còn chỗ cho giọng điệu sử thi, mà ngôn ngữ suồng sã đời thường được nhà văn sử dụng một cách tài tình, đậm nét, nhiều hơn trong các tác phẩm.

2.5.2. Giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương

Ngoài giọng hài hước hóm hỉnh tạo nên những trang viết “sắc ngọt”, “lém lỉnh”, Lê Lựu còn trần thuật với chất giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương. Chất giọng này thường là trần thuật những suy nghĩ của nhân vật và chính giọng điệu mang tính suy tư triết lý đã góp phần làm cho sức khái quát của tác phẩm sâu sắc hơn.

KẾT LUẬN

Có thể nhận thấy chính những thay đổi quan niệm về cách nhìn hiện thực, con người cũng như những nỗ lực trong sáng tạo nghệ thuật khiến tác phẩm của Lê Lựu thời kỳ đổi mới đã góp phần tích cực trong việc đổi mới nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Về mặt nội dung, ta thấy rằng, với cái nhìn sắc bén, Lê Lựu thực sự đã có những đóng góp to lớn cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chuyện làng Cuội đã đối thoại được với cuộc sống. Hơn thế nữa, những nhân vật như bà Đất, Lưu Minh Hiếu… vừa mang những nét riêng lại vừa mang tính khái quát sâu sắc đặc điểm của một lớp người thuộc “thời xa vắng”.

Về mặt nghệ thuật, chúng ta thấy rõ, dường như chuyển động đằng sau các sự kiện, sự việc là dòng tư tưởng, là những chiêm nghiệm mà ông muốn gửi gắm tới bạn đọc. Đặc biệt, những tư tưởng ấy được người cầm bút khéo léo đưa vào giữa các dòng, các chương, giữa các sự kiện, chi tiết ngồn ngộn của đời sống.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, H.

3. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, H.

4. Trần Đăng Khoa (1994), Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh Niên.

5. Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Mạnh (đồng chủ biên) (2002), Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 3), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

6. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H.

7. Lê Lựu (2003), Tạp văn, Nxb Văn hoá thông tin, H.

8. Lê Lựu (2006), Chuyện làng Cuội, Nxb Văn học, H.

9. Đỗ Hải Ninh (2006), “Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7- 2006.

10. Nguyễn Khắc Sính (2008), “Đi tìm phong cách chung của Văn học”, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 2-2008.