Printer-friendly version
Công trình NCKH của CNVC Khoa


Browse the glossary using this index

Special | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O
P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z | ALL

T

:

KHẢO SÁT CÁC TỪ XƯNG HÔ THÂN TỘC "THÍM, MỢ, DƯỢNG"

TRƯƠNG THỊ DIỄM

Đại học Sư phạm Đà Nẵng

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Các từ xưng hô của ngôn ngữ cấu thành một chỉnh thể nguyên vẹn. Đó là một hệ thống - cấu trúc các yếu tố trỏ người trong hoạt động giao tiếp. Nội dung và giá trị của từng yếu tố được xác định nhờ vào sự đối lập giữa yếu tố ấy với tất cả các yếu tố còn lại của hệ thống thông qua những quan hệ bên trong.

Ta biết rằng cách sử dụng từ xưng hô luôn luôn thay đổi theo sự thay đổi của xã hội. Hệ thống ngôn ngữ nói chung và hệ thống từ xưng hô nói riêng luôn là hệ thống động và mở, sự thay đổi về lượng của các yếu tố trong hệ thống xưng hô tất yếu kéo theo sự thay đổi về chất - cấu trúc của hệ thống. Hoạt động thử nghiệm, tìm kiếm một hệ thống từ xưng hô vừa giản tiện để phù hợp với xã hội hiện đại, vừa bảo đảm tính lịch sự, văn hoá trong giao tiếp đang được mọi người trong xã hội tiến hành một cách có chủ định hoặc thậm chí rất tự nhiên, không chủ định. Với xu hướng ngày càng “trí thức hơn” và cũng “nghệ sĩ hơn” (từ dùng của giáo sư Nguyễn Lai), trong một tương lai không xa người Việt sẽ tìm được một hệ thống xưng hô hợp lí, toàn mĩ.

Ở bài viết này, chúng tôi tập trung khảo sát nội dung ngữ nghĩa của các từ xưng hô "thím, mợ, dượng" trong thế đối lập của nó với một số từ khác trong hệ thống từ xưng hô thân tộc Việt và xu hướng “rụng dần” của chúng trong tiếng Việt hiện đại.

II. KHẢO SÁT NỘI DUNG NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ “THÍM, MỢ, DƯỢNG”

1. So sánh các từ “thím, mợ, dượng” với các từ “chồng, vợ, dâu, rể

1.1. Ngay từ khi người Việt có tập quán sử dụng danh từ thân tộc, các danh từ “thím, mợ, dượng” đã được sử dụng để xưng hô trong gia đình và giao tiếp xã hội. Trong hệ thống danh từ thân tộc Việt, các từ “chồng, vợ, dâu, rể” cùng với các từ “thím, mợ, dượng” có chung nghĩa tố: “không có quan hệ huyết thống”, đều vốn là những từ gọi tên các chức phận có được do quan hệ hôn nhân. Điểm khác nhau là ở chỗ: nếu như “thím, mợ, dượng” không chỉ được dùng để xưng hô tương ứng chính xác hoặc không tương ứng chính xác trong phạm vi gia đình mà còn có thể được sử dụng trong xưng hô giao tiếp xã hội (dù không phổ biến rộng rãi bằng các danh từ chỉ quan hệ huyết thống) thì “chồng, vợ, dâu, rể” không có được khả năng này.

1.2 Khi tiến hành phân tích cấu trúc nghĩa của các danh từ thân tộc Việt, chúng tôi tạm phân tích nghĩa tố của các từ này như sau:

*. Chồng: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: quan hệ đối ứng với vợ)2; (nam)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ bằng vai với TÔI - thế hệ (0))5; (không có đối lập nội ngoại)6.

*. Vợ: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: quan hệ đối ứng với chồng)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ bằng vai với TÔI - thế hệ (0))5; (không có đối lập nội ngoại)6.

*. Dâu: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: quan hệ đối ứng với nhà chồng)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ do TÔI sinh ra - thế hệ 1)5; (không có đối lập nội ngoại)6.

*. Rể: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: quan hệ đối ứng với nhà vợ)2; (nam)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ do TÔI sinh ra - thế hệ 1)5; (không có đối lập nội ngoại)6.

* Thím: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc dưới bố mẹ)5; (đằng nội)6

*. Mợ: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng ngoại)6

*. Dượng: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nam)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng nội hoặc đằng ngoại)6

1.3. Nhận xét:

a) Nếu các từ “chồng, vợ, dâu, rể” thuộc thế hệ bằng vai với Ego thì “thím, mợ, dượng” thuộc thế hệ trên Ego: bằng vai với bố mẹ Ego - thế hệ “lí tưởng” vì vừa đủ gần gũi để thân mật, vừa bề trên đủ để tôn kính và định rõ danh phận. Đây là lí do mà ở thế hệ này số lượng từ đơn gọi tên các thành viên của nó là cao nhất so với 9 thế hệ của gia tộc (hệ thống cửu tộc): 10 từ .

b) Hơn nữa ta nhận thấy các cặp từ “chồng - vợ”, “dâu - rể” đều biểu thị quan hệ sở hữu nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau - đối ứng (1 -1). Quan hệ này phản ánh một cách trực tiếp quan hệ hôn nhân và dễ dàng bị lùi xuống hàng thứ yếu khi các thành viên này hoà nhập vào cộng đồng gia tộc. Với sự xuất hiện của "con", "chồng, vợ" trở thành "cha, mẹ". Với sự xuất hiện của "cháu", "chồng, vợ" trở thành "ông, bà", hay "chú, thím", "cậu, mợ", "cô, dượng"... Theo Tiến sĩ Lê Ngọc Văn, tác giả của cuốn “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá” thì những mối quan hệ theo chiều dọc (quan hệ giữa các thế hệ) - quan hệ thứ nhất - được coi trọng hơn quan hệ theo chiều ngang (quan hệ vợ chồng) - quan hệ thứ hai. Quan hệ thứ nhất chi phối quan hệ thứ hai.[7. tr.30] Điều này có nghĩa là quan hệ vợ chồng phần nào bị mờ đi trong các quan hệ thân tộc. Trong một bài viết trước đây, chúng tôi đã thử lí giải tương đối kĩ nguyên nhân của việc tại sao các từ “chồng, vợ, dâu, rể” không được sử dụng để xưng hô trên cơ sở ngôn ngữ học và văn hoá - xã hội học. [xem 4, tr. 70-72]

Các từ “thím, mợ, dượng” tuy cũng mang nghĩa tố “không có quan hệ huyết thống” và cũng nhằm định danh các chức phận có được do hôn nhân nhưng hôn nhân chỉ là chiếc cầu nối, là điều kiện cần để nảy sinh quan hệ mà chúng phải phản ánh. Điều kiện đủ cho các từ “thím, mợ, dượng” tồn tại là sự có mặt của từ “cháu”. Quan hệ giữa thành viên “cháu” với các thành viên không có quan hệ huyết thống với nó là “thím, mợ, dượng” phải thông qua một quan hệ huyết thống. Hay nói cách khác, chiếc cầu nối giữa thím với cháuchú, giữa mợ với cháucậu, giữa dượng với cháucô, dì.Chú, cậu, cô, dì” là những người có quan hệ huyết thống với “cháu’. Phải chăng vì bắc cầu qua một quan hệ huyết thống mà các từ “thím, mợ, dượng” không cùng chung số phận với các từ “chồng, vợ, dâu, rể”. Khác với "chồng, vợ" các cặp từ “bố - mẹ”, “chú - thím”, “cậu - mợ”, “cô - dượng”, “dì - dượng” không chỉ tồn tại cho nhau mà còn tồn tại cho những đối tượng khác: chú là chồng của thím, là chú của cháu; cha là chồng của mẹ, là cha của con... (chúng tôi đã tạm gọi là "đa quan hệ"). Các từ “thím, mợ, dượng” đều chỉ những thành viên của thế hệ bằng vai với bố mẹ (trên Ego), cần được tôn kính. Với những lẽ trên mà vị trí của các từ “thím, mợ, dượng” được khẳng định. Vì vậy khác với “chồng, vợ, dâu, rể” chúng có đủ tư cách để gia nhập vào hệ thống xưng hô.

Các danh từ thân tộc “thím, mợ, dượng” trùng nhau ở những nét nghĩa 1, 2, 4 và đối lập nhau ở ba nét nghĩa 3, 5, 6. Cụ thể là những dấu hiệu làm chúng phân biệt với nhau: giới tính, bậc trên hay dưới (so với bố mẹ) và đối lập đằng nội hoặc đằng ngoại.

2. Khảo sát nội dung ngữ nghĩa của từdượng

2.1 Trong phạm vi gia đình, với lối xưng gọi tương ứng chính xác, từ dượng được dùng để gọi chồng của cô hoặc dì. Chồng sau của mẹ cũng gọi bằng dượng. Nhưng theo chúng tôi, từ dượng - chồng của mẹ - không phải là hình thái gốc mà chỉ là hình thái phụ, là cách nói tắt của cha dượng. Cơ sở cho sự chuyển nghĩa này là nét nghĩa: giới tính (nam) và nét nghĩa không có quan hệ huyết thống. Khả năng chuyển nghĩa đó cũng góp phần nói lên cái vị thế không mấy gắn bó của thành viên dượng trong hệ thống gia tộc. Không phải ngẫu nhiên mà cha ruột được gọi bằng cha, cha nuôi cũng gọi là cha nhưng cha ghẻ, cha dượng thì lại gọi bằng hình thái phụ: dượng. Những đứa con riêng của vợ đã từng ai oán:

“...Áo vá vai, vá hoài vá huỷ

Mẹ có chồng rồi chẳng nghĩ đến con

Một mâm ba bốn dĩa ngon

Dượng ghẻ ních hết để con nhịn thèm

Trong gia tộc, mối quan hệ giữa chồng của cô, dì với cháu thường vốn không được gần gũi. Vị thế đã xa này lại càng xa hơn bởi các quy ước của xã hội.

Luật triều Lê (Luật Hồng Đức) đã có những quy định về cách thức để tang và thời hạn để tang trong 9 thế hệ (sau này Luật Gia Long cũng giữ nguyên như vậy). Nếu như luật quy định rất tỉ mỉ, chặt chẽ về thời hạn để tang các thành viên trong gia tộc theo mức độ từ trên xuống, trong đó qui định cháu để tang chú và vợ chú (thím), bác trai và vợ bác trai (bác gái) đều bình đẳng như nhau là 1 năm, để tang cô 5 tháng, qui định cả thời hạn để tang chị em dâu, con dâu, cháu dâu... nhưng không hề đề cập đến việc để tang cậu, dì, mợ, dượng, con rể...

Vào cuối đời Lê, Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân (1690 - 1760) - hiệu là Thọ Mai, người làng Hoàn Hậu (Quỳnh Lưu, Nghệ An) soạn ra cuốn "Thọ Mai gia lễ". Người Việt về sau trong các phong tục hôn nhân, tang ma đều dựa theo cuốn này. Cuốn sách đã bổ sung thêm: thời hạn cháu để tang cậu, dì là: 5 tháng, con rể để tang cha mẹ vợ: 1 năm và ngược lại cha mẹ vợ để tang con rể: 3 tháng. Nếu sách khẳng định dâu phải để tang họ hàng bên chồng hoàn toàn như chồng mình thì sách cũng khẳng định: ngoài cha mẹ vợ ra, con rể không phải để tang bất cứ người nào khác bên họ vợ; và cháu không để tang chồng cô, chồng dì, vợ cậu... Trong dân gian có câu:

"Láng giềng còn để ba ngày

Chồng cô, vợ cậu một ngày cũng không"

Hay: “Chồng cô, vợ cậu, chồng dì

Trong ba người ấy chết thì không tang

Những câu ca dao trên khẳng định tính "người dưng" còn hơn "người dưng" của mợ và dượng.

Hơn nữa, người Việt Nam vốn trọng cùng huyết thống hơn khác huyết thống, trong cùng huyết thống thì trọng nam hơn nữ và hệ quả của nó là trọng dâu (vợ con trai) hơn rể (chồng con gái), mà dượng vừa khác huyết thống vừa là rể.

2.2 Xem xét từ dượng so với các từ chú, cậu.

* Chú: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nam)3; (có quan hệ huyết thống, không trực hệ, trình tự gãy)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc dưới bố mẹ)5; (đằng nội)6

* Cậu: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nam)3; (có quan hệ huyết thống, không trực hệ, trình tự gãy)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng ngoại)6

* Dượng: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nam)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng nội hoặc đằng ngoại)6

Chỗ đứng của dượng trong hệ thống gia tộc đã "hắt bóng" vào hệ thống từ xưng hô khiến cho từ dượng có vị trí rất "hẩm hiu" trong hệ thống xưng hô. Cụ thể là từ dượng rất ít được sử dụng trong xưng hô giao tiếp xã hội; trong phạm vi xưng hô gia đình, từ dượng cũng đang có khuynh hướng lùi dần khỏi hệ thống. Khi xưng gọi với chồng của cô (em bố), dượng được thay bằng chú; với chồng cô (chị bố), dượng được thay bằng bác; với chồng dì, dượng được thay bằng cậu hoặc chú. "Chú, bác, cậu" có cùng nét nghĩa giới tính (nam) và nét nghĩa thế hệ - thế hệ (-1) với dượng nhưng đối lập với dượng ở nét nghĩa "cùng huyết thống". Sự chuyển hoá kể trên của từ dượng phản ánh xu hướng huyết thống hoá trong xưng hô.

2.3. Nhận xét:

a) Hai từ chúcậu chỉ khác nhau ở nét nghĩa 6: đằng nội/đằng ngoại.

b) Hai từ chúdượng khác nhau ở nét nghĩa 4: cùng huyết thống/khác huyết thống, nét nghĩa 6: đằng nội/đằng ngoại và nét nghĩa thứ bậc (dượng vừa chỉ bậc trên vừa chỉ bậc dưới bố mẹ) .

Các khuynh hướng “trọng gần hơn xa”, “trọng cùng huyết thống hơn khác huyết thống”, “trọng nội hơn trọng ngoại” và khuynh hướng “thân mật hoá” đã dẫn đến việc lựa chọn từ chú để thay cho cậudượng khi chỉ các thành viên giới tính nam, bậc dưới bố (cũng như từ bác thay cho cậu, dưọng bậc trên bố).

3. Khảo sát nội dung ngữ nghĩa của 2 từ “thím, mợ” - có cùng giới tính nữ

3.1 Trong phạm vi gia tộc, với lối xưng gọi tương ứng chính xác, thím dùng để gọi vợ của chú (em bố), mợ dùng để gọi vợ của cậu (anh hay em mẹ). Với lối xưng gọi không tương ứng chính xác, theo nguyên tắc nâng bậc thay ngôi, thím còn là từ mà người đàn ông cùng vợ của mình gọi người em dâu, mợ là từ người đàn bà cùng chồng mình gọi người em dâu (gọi thay vai con). Từ mợ dù vừa dùng để chỉ người phụ nữ ở bậc trên hoặc dưới mẹ trong xưng hô tương ứng chính xác nhưng khi xưng hô tương ứng không chính xác thì chỉ thường dùng để gọi em dâu (bậc dưới của Ego) mà ít khi gọi chị dâu. Nguyên nhân của chúng là vì anh rể, chị dâu được em vợ, em chồng gọi là anh chị như anh chị ruột và vì anh chị vốn đã ở bậc trên nên không cần phải gọi thay ngôi để nâng bậc theo nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn” nữa. Khi chị dâu đã đứng tuổi, nếu cần thiết phải gọi thay con thì người ta thường gọi chị dâu là bác.

Trong xưng hô, từ thím được sử dụng với sắc thái thân mật hơn rất nhiều so với từ mợ. Lí do là vì người Việt vốn trọng đằng nội hơn đằng ngoại. Người xưa có câu:

Cậu chết mợ ra người dưng

Chú tôi có chết thím đừng lấy ai!

Đây là lối nói rất cực đoan nhưng thực chất là nhằm khẳng định trách nhiệm phải “thay chồng gánh vác giang san nhà chồng” của thím, khẳng định vị trí, tình cảm gắn bó của thím đối với Ego. Chính vì vậy mà ở phương ngữ Trung, từ thím được dùng để gọi thân mật người phụ nữ đã có chồng trong xưng hô giao tiếp xã hội. Gặp nhau ngoài đường, người ta có thể chào nhau: “Đi chợ về hả thím?”, “Cá rẻ không thím?”. Trong khi đó, từ mợ lại dùng để gọi người phụ nữ trong tình huống mình không hài lòng về họ (Ví dụ: Chi rứa mợ; Thôi đi mợ; hoặc “Không mợ thì chợ cũng đông, Mợ đi mấy tháng chẳng trông mợ về”...). Trong xưng hô giao tiếp xã hội, từ mợ được dùng với nhiều sắc thái nghĩa khác xa với nghĩa từ vựng gốc. Trong xã hội có giai cấp, mức độ “bắt quàng làm họ” bằng các từ chú, bác không được giới chủ chấp nhận. Vì thế cặp từ cậu - mợ với các nét nghĩa chỉ sự kính trọng, nét nghĩa chỉ sự gần gũi vừa đủ để ràng buộc tình cảm và trách nhiệm, vừa đủ xa để ngăn cách đã được một số gia đình quyền quí dùng để gọi vợ chồng chủ. Thời Pháp thuộc, nhằm khẳng định sự phân biệt địa vị, cặp từ cậu - mợ được sử dụng rộng rãi để gọi cai lính, thầy kí và xưng hô với nhau cho ra vẻ sang trọng ở các gia đình thành phố (vợ chồng gọi nhau, con cái gọi cha mẹ). Ở một số gia đình hiếm con, khó nuôi con, cũng có tục con cái gọi bố mẹ là cậu, mợ.

Tương tự như trường hợp từ dượng, xu hướng huyết thống hoá chi phối cả 2 từ xưng hô: thím, mợ. Trước đây, khi đã gọi một người đàn ông nào đó không có quan hệ huyết thống với mình là chú thì thường gọi vợ ông ấy là thím nhằm thân mật hoá: xem vợ chồng họ không là ruột thịt của mình. Thế nhưng, ngày nay, trong xưng hô giao tiếp xã hội, khi đã gọi người chồng là chú hoặc cậu thì người ta có xu hướng gọi vợ là thay cho thím, mợ. Bởi vì xưng hô giao tiếp xã hội không cần phải tương ứng chính xác.

3.2 Xem xét các từ dì, thím, mợ so với từ :

: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (có quan hệ huyết thống, không trực hệ, trình tự gãy)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng nội)6

: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (có quan hệ huyết thống, không trực hệ, trình tự gãy)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng ngoại)6

* Thím: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc dưới bố mẹ)5; (đằng nội)6

*. Mợ: (người)1; (thành viên của hệ thống gia tộc: đa quan hệ)2; (nữ)3; (không có quan hệ huyết thống)4; (thuộc thế hệ sinh ra TÔI - thế hệ -1, bậc trên hoặc dưới bố mẹ)5; (đằng ngoại)6

3.3 Nhận xét:

a) Hai từ chỉ khác nhau ở nét nghĩa 6: đằng nội/đằng ngoại.

b) Hai từ thím khác nhau ở nét nghĩa 4: cùng huyết thống/khác huyết thống và nét nghĩa thứ bậc (thím chỉ bậc dưới bố mẹ).

c) Hai từ mợ khác nhau ở nét nghĩa 4: cùng huyết thống/khác huyết thống và nét nghĩa 6: đằng nội/đằng ngoại.

Cũng như ở trương hợp a, các khuynh hướng “trọng gần hơn xa”, “trọng cùng huyết thống hơn khác huyết thống”, “trọng nội hơn trọng ngoại” và khuynh hướng “thân mật hoá” đã dẫn đến việc lựa chọn từ để thay cho dì, thím, mợ khi chỉ các thành viên giới tính nữ, bậc dưới bố. Với sự chuyển biến ý nghĩa này, nét nghĩa giới tính, thế hệ và cùng với nó là nét nghĩa phái sinh chỉ sự tôn trọng được giữ nguyên trong khi nét nghĩa chỉ sự thân mật, gần gũi được tăng cường.

4. Dù muốn dù không vẫn phải công nhận rằng trong một tương lai không xa chúng ta cũng phải “chia tay” với các danh từ thân tộc “thím, mợ, dượng”. Hay nói cách khác, các từ “thím, mợ, dượng” đang có xu hướng chịu cùng số phận với các từ “vợ, chồng, dâu, rể” - những từ có cùng chung nghĩa tố chỉ những thành viên “không có quan hệ huyết thống”- là không được sử dụng để xưng hô. Hiện ở các thành thị có nhiều gia đình đã cho phép thay các cặp từ cậu-mợ, cô-dượng, dì dượng, chú- thím bằng cặp cô-chú. Nghĩa là tất cả các thành viên thuộc bậc dưới cha mẹ mình, nếu là nam thì đều được gọi là chú, là nữ thì đều được gọi là mà không phân biệt là em cha hay mẹ, em trai ruột hay em rể, em gái ruột hay em dâu của bố mẹ. Như vậy với sự thay đổi giá trị của các yếu tố trong hệ thống, chịu áp lực của hệ thống, ngoại diên của hai từ cô chú sẽ được mở rộng đáng kể.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, “số phận” của các từ dì, cậu, thím, mợ, dượng không như nhau. Các từ cậu với nghĩa tố “cùng huyết thống” sẽ còn giữ được vị thế của mình lâu hơn so với “thím, mợ, dượng” trong xưng hô gia đình. Đối với xưng hô xã hội, do đã chuyển biến ý nghĩa khá xa so với nghĩa gốc ban đầu nên từ và đặc biệt là cậu sẽ còn tồn tại lâu dài trong vốn từ xưng hô tiếng Việt. Đặc biệt là ở các vùng phương ngữ khác nhau thì diễn biến này cũng khác nhau: ở phương ngữ Trung và Nam, các từ thím, cậu, dì, mợ, dượng vẫn được sử dụng tương đối nghiêm ngặt, phổ biến trong xưng hô giao tiếp gia đình; thậm chí từ dượng ở một số vùng còn được sử dụng để xưng hô giao tiếp xã hội.Chúng tôi sẽ bàn kĩ hơn về hai từ cậu, dì trong một bài viết khác.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:

Trên đây chúng tôi đã tiến hành khảo sát nội dung ngữ nghĩa của các từ xưng hô "thím, mợ, dượng" và xu hướng thu hẹp phạm vi của chúng trong hoạt động hành chức. Với khuôn khổ bài viết nhỏ, còn nhiều vấn đề chúng tôi chưa có điều kiện trình bày sâu. Chúng tôi hi vọng sẽ có dịp tiến hành khảo sát sâu hơn và khảo sát đầy đủ hơn các từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc còn lại trong những bài viết sau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

3. Nguyễn Văn Chiến (1991), "Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc Việt", tạp chí Ngôn ngữ, (2).

4. Trương Thị Diễm (1999), “Nghĩa và sự chi phối cách sử dụng của các danh từ thân tộc kị, chắt, chút, vợ, chồng, dâu, rể”, tạp chí Ngôn ngữ, (6).

5. Mai Xuân Huy (1998), "Các cung bậc của ngôn ngữ trong giao tiếp vợ chồng người Việt", Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

6. Nguyễn Lai (1990), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, Đại học Tổng hợp, Hà Nội.

7. Lê Ngọc Văn (1998), Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Keyword(s):

Y

YEU_TO_TRUC_GIAC_TRONG_SANG_TAO_NGHE_THUAT.doc
:
Th.S Nguyễn Phương Khánh