TỪ CÁC DỊ BẢN CỦA MỘT BÀI CA DAO

NGHĨ VỀ MỘT ĐỨC TÍNH ĐẸP CỦA NGUỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

Là sản phẩm tinh thần đặc biệt, hình thành trong đời sống lao động, chiến đấu và trong sinh hoạt hàng ngày của người lao động, văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng có một số đặc tính cơ bản mang nét đặc thù rất đáng chú ý. Tính tập thể, tính vô danh, tính truyền miệng đã góp phần tạo ra các dị bản khác nhau của cùng một tác phẩm và ở nhiều trường hợp đã tạo ra nét độc đáo của tác phẩm đó. Việc tìm hiểu các dị bản khác nhau của cùng một tác phẩm ca dao nhiều khi góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh phong phú về nội dung tư tưởng của nó từ đó hiểu thêm những phẩm chất hay đức tính của người lao động Việt Nam. Xuất phát từ luận điểm cơ bản đó, tác giả bài viết này muốn tìm hiểu các dị bản của một bài ca dao để hiểu thêm một đức tính đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Bản I: Câu 1 Nào khi anh bủng anh beo,

" 2 Tay cất chén thuốc tay đèo múi chanh.

" 3 Bây giờ anh khỏi anh lành,

" 4 Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi.( bản V.N. P- tr.380)

Bản II: Câu 1 Nhớ khi anh bủng anh beo

" 2 Tay bưng chén thuốc tay đèo múi chanh

" 3 Bây giờ anh đỡ anh lành

" 4 Anh mê duyên mới anh tình phụ tôi.

Bản III: Câu 1 Nhớ khi anh bủng anh beo

" 2 Tay bưng chén thuốc tay đèo múi chanh

" 3 Bây giờ anh đỡ anh lành

" 4 Anh mê duyên mới anh tình phụ tôi

" 5 Đất xấu nặn chẳng nên nồi

" 6 Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng.

Bản IV: Câu 1 Nhớ khi anh bủng anh beo

" 2 Tay bưng chén thuốc tay đèo múi chanh

" 3 Bây giờ anhđỡ anh lành

" 4 Anh mê duyên mới anh tình phụ tôi

" 5 Đất xấu nặn chẳng nên nồi

" 6 Chàng đi lấy vợ để thiếp tôi lấy chồng

" 7 Chàng về lấy vợ cách sông

" 8 Còn thiếp tôi lơ lửng lấy con ông lái đò

" 9 Phòng khi chàng có sang đò

" 10 Sông sâu nước cả thiếp tôi lo cho chàng

Về văn bản, câu chữ, so sánh bốn bản I, II, III, IV ta thấy có một số chữ dùng khác nhau. Cụ thể:

Câu Bản I Bản II, III, IV

1 Nào khi Nhớ khi

2 Tay cất Tay bưng

3 Anh khỏi Anh đỡ

4 Anh mê nhan sắc Anh mê duyên mới

Có thể thấy, mặc dù có một số khác biệt nhỏ về chữ dùng nhưng cả bốn bài ca dao trên đều có cùng một phần chung được xem là gốc gồm bốn câu đầu: 1, 2, 3, 4. Phần này toát lên ý cơ bản là sự phụ bạc, vô ơn của người chồng và lời than phiền, oán trách của người vợ. Dù là “Nào khi” hay là “Nhớ khi” thì nhân vật trữ tình là người phụ nữ bị chồng phụ bạc này đều đang đứng ở thời điểm hiện tại để tỏ bày tình cảm của mình. Chị là người vợ rất mực thương yêu chồng, tận tụy với chồng. Khi chồng đau ốm “bủng beo”, chị không quản ngại vất vả gian nan, tất bật lo thuốc thang cho chồng. Một tay thì “bưng chén thuốc” còn một tay lại “đèo múi chanh’. Biết bao nhiêu tình thương yêu trìu mến đọng ở chữ ‘đèo” vốn giản đơn kia. Cái múi chanh bé tẹo, nhỏ nhoi như vậy mà phải gắng sức mới kiếm được về làm thuốc cho chồng. Bao nhiêu công sức, bao nhiêu tình thương dồn lại ở một chữ “đèo”. Người ta nhớ ngay đến một bài ca dao khác nói về tấm tình của người phụ nữ Việt Nam:

Tai em nghe anh đau đầu chưa khá

Em băng đồng chỉ sá đi bẻ nạm lá nọ về xông

Ở làm sao đây cho trọn nghĩa vợ chồng

Đổ mồ hôi ra em chặm ngọn gió lồng em che.( bản V.N. P- tr.386)

Quả thật, tình thương yêu mà người phụ nữ Việt Nam dành cho chồng chân thành, mộc mạc mà quý giá và xúc động biết bao. Ấy vậy mà người chồng thật vô ơn, đã phụ tấm lòng của chị. Giờ đây anh đã khỏi bệnh, đã khỏe, đã lành thì anh lại ham mê duyên mới, ham mê nhan sắc mới mà phụ bạc người vợ đã dành cho anh tất cả tình yêu, tuổi thanh xuân và sự chăm sóc chân tình. Dưới chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, “trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên chỉ có một chồng”, người vợ này đành chỉ buông ra tiếng thở dài với lời oán trách thầm lặng: “Anh mê nhan sắc (duyên mới) anh tình phụ tôi”. Đó là nét chung của bản I, II và bốn câu đầu của bản III. Sự tiếp nối câu 5 và 6 ở bản thứ ba cho ta thấy một nét khác: phản ứng của người phụ nữ trước tình cảnh bị phụ bạc. Ở đây người phụ nữ không cam chịu, không cam phận bẽ bàng bị tình phụ mà có thái độ dứt khoát, rõ ràng: Nếu anh và tôi duyên chẳng đẹp, chẳng thể mặn nồng được nữa, “đất xấu nặn chẳng nên nồi” thì anh đi đường anh tôi đường tôi vậy: “Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng”. Giờ đây không chỉ là oán trách, than thân trách phận mà là sự phản ứng theo hướng giải phóng đời mình. Người phụ nữ Việt Nam không chỉ cam phận mà dám nghĩ, dám nói ra một cách kiên quyết và cao hơn là dám tìm ra con đường đi phù hợp cho cả đôi bên. So với bản I và II, bản III rõ ràng đã góp thêm một nét đức tính đáng quý của người phụ nữ Việt Nam. Đó là sự chủ động trong cuộc sống, không chịu đầu hàng số phận đen bạc. Tuy nhiên, theo chúng tôi, bản IV mới là bản hết sức độc đáo. Cũng là cách giải quyết dứt khoát, mỗi người một ngả nhưng cách nói nhẹ nhàng hơn, thân tình hơn rất nhiều: “Chàng đi lấy vợ để thiếp tôi lấy chồng”. Chỉ thay chữ “anh’ bằng chữ “chàng” và thêm vào chữ “thiếp’ trước chữ “tôi’, tác giả dân gian đã diễn tả tinh tế nỗi lòng sâu kín của người vợ bị phụ bạc. Lòng phẫn nộ đã dịu đi nhiều, lời nói cũng mềm mỏng hơn. Ở người phụ nữ này vẫn còn vương vấn một chút tơ lòng: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”( “Truyện Kiều” - Nguyễn Du). Chàng và thiếp vốn là cách xưng hô thân tình của những đôi lứa hạnh phúc:

+ “Thiếp xa chàng hái dâu quên giỏ

Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm” (bản V.N.P - tr.281)

+ “Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây

Như con chèo bẻo xa cây măng vòi” (bản V.N.P - tr.258)

+ ‘Chàng đi thiếp vẫn trông theo

Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi

Chàng đi thiếp đứng trông chừng

Trông sông lai láng trông rừng rừng xanh” (bản V.N.P tr. 295)

Giờ đây hạnh phúc đã tan vỡ. Anh đã mê duyên mới mà tình phụ tôi nhưng dù vậy thiếp tôi đây vẫn còn thương yêu nhiều lắm. Người phụ nữ này tự vẽ ra cảnh tượng trong tương lai: Chàng thì lấy một người vợ ở cách sông còn thiếp tôi thì “lơ lửng lấy con ông lái đò”. Vì sao và để làm gì vậy? Để “phòng khi chàng có sang đò, sông sâu nước cả thiếp tôi lo cho chàng”. Hóa ra là như vậy. Hóa ra sự thật là người vợ bị phụ bạc này vẫn còn thương yêu người chồng nhiều lắm. Biết bao nhiêu yêu thương, quý mến, biết mấy hi sinh và nhân hậu, khoan dung ở cái từ “lơ lửng” sâu sắc mà tinh tế. Thiếp tôi nào có yêu con trai ông lái đò đâu. Thiếp tôi chỉ yêu có một mình chàng thôi. Cho dù chàng không còn thương yêu thiếp nữa; cho dù chàng đã phụ bạc tình thiếp thì bất cứ lúc nào trong cuộc đời này thiếp tôi cũng chỉ lo cho một mình chàng mà thôi. Hóa ra sự sắp đặt “chàng về lấy vợ cách sông” “còn thiếp tôi lơ lửng lấy con ông lái đò” là cách để bày tỏ tấm lòng của người vợ đáng quý này. Đáng ra thì thiếp tôi sẽ ôm trọn mối tình với chàng mà ở vậy đến suốt đời nhưng vì luôn lo lắng, quan tâm, thương yêu chàng nên thiếp tôi phải lơ lửng lấy con ông lái đò để “phòng khi chàng có sang đò” thì những quãng "sông sâu nước cả” đã có “thiếp tôi lo cho chàng”. Một tình yêu thật cao cả biết bao! Tình yêu đó đồng nghĩa với sự hi sinh! Vì chàng, thiếp có thể quên đi cuộc đời riêng, hạnh phúc riêng; có thể làm tất cả để chàng luôn hạnh phúc.

Trong “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan còn có một bản khác có thể so sánh với các bản đã nêu trên:

Câu 1 Xưa kia ở với mẹ cha

" 2 Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành

" 3 Từ ngày tôi ở với anh

" 4 Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi

" 5 Đất xấu nặn chả nên nồi

" 6 Anh đi lấy vợ cho tôi lấy chồng. (tr. 380)

Nét gặp gỡ về nội dung ở bản này với các bản kia là cùng nói về sự phụ bạc của người chồng và cũng bộc lộ thái độ dứt khoát của người vợ nhưng ở bản này có một vài sắc thái khác. Người chồng ở đây không bị oán trách về sự vô ơn mà bị oán trách bởi sự tàn bạo và phụ bạc. ôn lại quãng đời hạnh phúc, sung sướng, được thương yêu chiều chuộng khi còn ở với mẹ cha, người phụ nữ này kể tội người chồng: “Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi” để bộc lộ rõ thái độ dứt khoát của mình “Anh đi lấy vợ cho tôi lấy chồng”.

Như vậy, có thể thấy, để thể hiện một nội dung nào đó, tác giả dân gian đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm khác nhau dựa vào một bản gốc ban đầu. Từ bản gốc này, có thể có những dị bản khác để bổ sung (thêm, bớt, thay đổi) một nét nội dung khác. Từ những dị bản khác nhau của bài ca dao được phân tích ở trên, ta có thể hiểu thêm một đức tính tốt đẹp của người phụ nữ lao động Việt Nam. Tình yêu và sự hi sinh, lòng vị tha cao cả của họ góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp truyền thống của dân tộc ta. Đó là những giá trị văn hóa tinh thần quý báu mà chúng ta cần giữ gìn, nâng niu, trân trọng và truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Nxb KHXH, HN.

2. Vũ Ngọc Phan (1998), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb KHXH, HN.

* Bài báo cáo và đăng trong Kỷ yếu Hội thảo VHDG do Khoa Ngữ Văn

Trường ĐHSP – ĐH Đà Nẵng tổ chức tháng 5/2002.

* Bài được tuyển chọn đăng trong Tuyển tập các công trình nghiên cứu

khoa học Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP – ĐH Đà Nẵng, 2010.

Last modified: Thursday, 17 November 2011, 10:41 AM